Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của hoạt động xuất khẩu cá da trơn sang thị trường Mỹ.

2.1.3.1. Những thuận lợi

Cá da trơn Việt Nam dễ nuôi, dễ đánh bắt cho năng suất cao, thịt thơm ngon, sức sống cao và có tốc độ tăng trưởng cao. Cùng với điều kiện tự nhiên nước ta và nguồn thức ăn phong phú  đã mang lại nhiều thuận lợi cho việc nuôi trồng. Đặc biệt, khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long là khu vực không có mùa đông nên cá có thể lớn quanh năm trong khi cá ở Mỹ chỉ lớn trong khoảng thời gian 7-8 tháng, thời gian còn lại chỉ “ngủ đông” không lớn hoặc lớn chậm, điều đó cũng tạo nguồn cung phong phú và cạnh tranh có hiệu quả vớithị trường Mỹ.Bên cạnh đó, những nghiên cứu về công nghệ nuôi trồng, việc đưa thức ăn công nghiệp vào đã rút ngắn thời gian nuôi và giảm thiểu được lượng thức ăn cho cá. Phía các nhà máy chế biến cũng đã có nhiều biện pháp giảm giá thành như đầu tư thêm thiết bi, tận dụng phế liệu, đa dạng hoá sản phẩm… Theo tính toán, giá thành sản xuất cá da trơn đã giảm 30-40%, do đó có thể bán vào thị trường Mỹ với giá thấp.

Ngoài ra, sự tiến bộ trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nước đã mở ra cơ hội lớn cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ cá da trơn của Việt Nam. Đặc biệt là sau hiệp định thương mại Việt- Mỹ được ký kết vào ngày 13/7/2000. Sự kiện này đã mở ra những cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu cá ba sa nói riêng tại thị trường Mỹ, tạo cơ hội để nâng cao được vị thế của thuỷ sản Việt Nam trên thị trường Mỹ, thông qua đó mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới. Đồng thời sau vụ kiện cá ba sa năm 2002 cá da trơn Việt Nam trở nên được nhiều người tiêu dùng Mỹ và các và các nước khác biết đến cái tên cá ba sa Việt Nam. Qua đó, nhà nước Việt Nam cùng với các doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn vào thị trường Mỹ rút ra được bài học cho mình khi xuất khẩu vào thị trường này, để có khả năng vượt qua các rào cản một cách tốt hơn, tăng khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường Mỹ.

2.1.3.2. Một số khó khăn khi thâm nhập vào thị trường Mỹ

Xâm nhập vào thị trường Mỹ, khó khăn trước tiên mà các doanh nghiệp xuất khẩu cá ba sa, cá tra Việt Nam gặp phải là: tính cạnh tranh trên thị trường này rất cao, gặp phải những đối thủ cạnh tranh lớn, không những cạnh tranh về chất lượng, giá cả mà còn cạnh tranh cả về phương thức thanh toán.

Hàng thuỷ sản nhập khẩu vào Mỹ phải qua sự kiểm tra chặt chẽ của FDA (Cục dược phẩm và thực phẩm Mỹ) theo các tiêu chuẩn HACCP, vấn đề vệ sinh thực phẩm, ô nhiễm môi trường, bảo vệ sinh thái… là những lý do mà Mỹ thường đưa ra để hạn chế nhập khẩu thuỷ sản.

Ngoài ra, thị trường Mỹ có hệ thống phân phối bài bản chủ yếu qua hai kênh tiêu thụ gồm có kênh bán lẻ thuỷ sản xuất khẩu chiếm 50% trị giá tiêu thụ ở Mỹ. Các hình thức bán lẻ chủ yếu là bán qua siêu thị, bán cho các nhà hàng, nhà ăn công cộng, bán cho tiệm ăn người Việt tại Mỹ. Một kênh phân phối nữa là bán sỉ thuỷ sản ở Mỹ. Các doanh nghiệp Việt Nam chỉ mới tiếp cận được các nhà nhập khẩu mà chưa với tới các nhà bán lẻ hay siêu thị, hàng hoá chưa đến tay người tiêu dùng, do đó chưa nhận được thông tin phản hồi một cách trực tiếp để từ đó có biện pháp cải tiến, nâng cao chất lượng phù hợp với thị hiếu của khách hàng.

Việc chế biến và bảo quản, vệ sinh an toàn thực phẩm của các doanh nghiệp xuất khẩu còn thấp kém chưa đáp ứng được yêu cầu về vệ sinh, an toàn thực phẩm do Mỹ đề ra, mà thuỷ sản xuất vào thị trường Mỹ phải qua sự kiểm tra chặt chẽ của Cục dược phẩm và thực phẩm Mỹ. Hơn thế, Mỹ còn đề ra một số tiêu chuẩn khác mà các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam khó có khả năng đáp ứng được để hạn chế việc xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ nhằm bảo hộ các doanh nghiệp trong nước và đề ra mức thuế cao.