Đánh giá thực trạng thúc đẩy xuất khẩu cao su của Việt Nam

1 Những kết quả đạt được:

– Tính đến nay, vừa tròn 110 năm cây cao su được du nhập vào Việt Nam (1897) và 100 năm hình thành những đồn điền kinh doanh (1907). Năm 1920 cả nước có 7.077 ha tập trung tại các tỉnh Đông Nam Bộ, đến nay diện tích cây cao su của cả nước đã tăng lên ước đạt trên 512 nghìn ha, trong đó diện tích kinh doanh trên 350 nghìn ha, tổng sản lượng mũ khai thác đạt trên 500.000 tấn, khoảng 90 % sản lượng cao su Việt Nam được xuất khẩu, đưa kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD mỗi năm.

–  Hai tháng đầu năm của năm 2008, xuất khẩu cao su của cả nước đạt 82,7 ngàn tấn, trị giá gần 190 triệu USD, giảm 15,92% về lượng, nhưng lại tăng 14,28% về trị giá so với hai tháng đầu năm 2007.

– Cao su đã vươn lên vị trí thứ ba trong số các mặt hàng nông lâm sản đạt kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, chỉ sau gạo và gỗ. Dự kiến trong tháng 12, cả nước sẽ khai thác, chế biến và xuất khẩu thêm trên 70.000 tấn mủ cao su.

– Năm 2005, nhờ sản lượng tăng nhanh hơn Trung Quốc, Việt Nam đã vươn lên hàng thứ 5. Riêng về xuất khẩu, từ nhiều năm qua Việt Nam đứng hàng thứ 4, với sản lượng tăng dần qua các năm, từ 273.400 tấn (năm 2000), lên 308.100 tấn (2001), 454.800 tấn (2002), 433.106 tấn (2003), 513.252 tấn (2004), 587.110 tấn (2005) và 690.000 tấn (năm 2006).

– Cơ cấu thị trường xuất khẩu đã đuợc đa dạng hóa. Nếu như năm 1996, cao su Việt Nam mới được xuất khẩu sang 19 nước và vùng lãnh thổ thì đến năm 2006 đã xuất khẩu được sang hơn 40 thị trường. Từ chỗ cao su Việt Nam chỉ xuất khẩu được sang thị trường Châu Á, Châu Âu thì từ năm 2004 đã vươn tới thị trường Hoa Kỳ, Nam Phi và Châu Úc. Trong năm 2007 Việt Nam vẫn giữ được phần thị trường Trung Quốc và tăng xuất khẩu sang Châu Âu đặc biệt là  Đông Âu, trong đó Nga và Cộng hòa Sec là những thị trường mới.

– Nhờ có mở rộng thị trường xuất khẩu, phần lớn là mở rộng theo chiều sâu, xuất vào thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản nên kim ngạch cao su tự nhiên đã tăng đáng kể và tăng tới 1,3 tỉ USD, là một trong những mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch trên 1 tỉ USD nên đã đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước. Trên thị trường thế giới, Việt Nam đã chiếm khoảng 10% trong tổng khối lượng xuất khẩu của thế giới , đưa Việt Nam trở thành nước đứng thứ tư thế giới về xuất khẩu cao su tự nhiên sau Thái Lan, Inđônêxia, Malayxia.

– Cơ cấu sản phẩm cao su tự nhiên xuất khẩu đã có sự thay đổi phù hợp hơn với nhu cầu thế giới và giá xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam cũng đã tăng đáng kể:

2. Những hạn chế còn tồn tại:

– Mặc dù sản lượng cao su của Việt Nam vẫn đạt 600.000 tấn cao su trong năm 2007, tăng so với 553.500 tấn năm 2006 nhưng nguồn nhập khẩu cao su của Việt Nam từ các nước láng giềng giảm đi do nguồn cung hạn hẹp từ các nước này. Việt Nam xuất khẩu 80% sản lượng mủ cao su của mình và mua cao su từ Thái Lan, Campuchia và Indonexia để tái xuất khẩu.

– Hiện tại cơ cấu sản phẩm cao su của VN vẫn còn bất hợp lý, bởi lẽ những sản phẩm thị trường có nhu cầu cao như: ly tâm; SVR 10,20; RSS thì chúng ta lại sản xuất được rất ít. Trong khi những sản phẩm khác thị trường có nhu cầu thấp thì sản lượng của chúng lại chiếm tới 60%.

– Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường truyền thống , vẫn chưa khai phá được nhiều thị trường mới chủ yếu do năng lực cạnh tranh thấp.

– Thị trường cao su tự nhiên của Việt Nam mặc dù đã được đa dạng hóa cho đến nay vẫn không ổn định, còn lệ thuộc vào một số thị trường đặc biệt là thị trường Trung Quốc. Các thị trương mới mở như thị trường Hoa Kì, Nhật Bản đã góp phần làm đa dạng hóa cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam nhưng tỉ trọng cao su xuất khẩu  sang thị trường này vẫn còn thấp.

– Sản phẩm cao su của Việt Nam vẫn chưa cạnh tranh được với sản phẩm cao su của các nước trong khu vực và chưa xây dựng được thương hiệu mạnh cho cao su tự nhiên của Việt Nam trên thị trường thế giới.

– Thêm một khó khăn mà hoạt động xuất khẩu cao su đang gặp phải cùng với nhiều ngành hàng khác là cước phí bốc dỡ container (THC) mà các hàng tàu mới áp dụng. Hiệp hội Cao su Việt Nam cho rằng, cước THC đang ảnh hưởng rất nhiều đến xuất khẩu cao su của Việt Nam. Vì thế Hiệp hội sẽ kiên quyết không áp dụng cước THC theo lời kêu gọi của Hiệp hội Cao su Đông Nam Á để giảm bớt gánh nặng cho các doanh nghiệp xuất khẩu.

3. Nguyên nhân:

– Phần lớn cao su tự nhiên của Việt Nam được trồng rất lâu đời và đang đi vào quá trình thanh lí, do đó tỉ lệ mủ và chất lượng không tốt so với các cây cao su giống mới củấcc nước trong khu vực.

– Quá trình thu gom chưa khoa học , còn để xảy ra hiện tượng tranh bán, tranh mua giữa các doanh nghiệp thu gom làm cho giá cả biến động bất thường khi thì lên cao, khi lại xuống thấp. Mặt khác lại không được sự hướng dẫn của doanh nghiệp, của các Bộ, các ngành nên đã để xảy ra hiện tượng khi giá cả xuống thấp thì các khu vực trồng cao su chặt cây cao su đi trồng cây thay thế, điều đó làm cho cung giảm, đẩy giá lên cao. Chính vì thế gây ra vòng luẩn quẩn giữa các hộ trồng cây cao su.

– Cơ sở hạ tầng của các khu trồng cao su còn yếu kém, điều kiện vận chuyển, dự trữ sản phẩm rất hạn chế, làm giảm hiệu quả sản xuất, xuất khẩu và tăng giá thành. Năng suất cao su nước ta vẫn xòn thấp hơn so với các nước trong khu vực và thế giới.

– Cao su tự nhiên Việt Nam phần lớn xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô nên mang lại gia tăng, lợi thế cạnh tranh thấp. Bên cạnh đó, công nghiệp chế biến sản phẩm cao su trong nước phát triển chậm, do đó khả năng chuyển đổi  cơ cấu sản phẩm để phù hợp với nhu cầu của các thị trường nhập khẩu còn thấp , chưa có chính sách thu hút đầu tư thích hợp vào công nghiệp chế biến sản phẩm cao su nhằm tăng sử dụng nguyên liệu mủ cao khô sơ chế, giảm xuất khẩu nguyên liệu thô.

– Các doanh nghiệp xuất khẩu cao su quá tập trung vào một số thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Hàn Quốc…nên công tác phát hiện tìm kiếm các thị trương mới còn chưa được chú trọng .

– Công tác xúc tiến xuất khẩu của Nhà nứơc và doanh nghiệp còn hạn chế, chưa cung cấp các thông tin cập nhật về giá cả, biến động cung cầu …Nên các doanh nghiệp sản  xuất cao su nước ta còn chịu nhiều thua thiệt hơn so với các nước trong khu vực.

– Vai trò của Nhà nước và Hiệp hội cao su còn mờ nhạt. Nhà nước chưa quan tâm giúp đỡ các khu vực tiểu  điền để tăng năng suất và chất lượng cao su cũng như chưa quan tâm đúng mức đến phát triển công nghiệp sản xuất các sản phẩm cao su để tăng giá trị xuất khẩu và giảm tỉ lệ xuất khẩu nguyên liệu thô. Mặt khác, Nhà nước và các Hiệp hội cần cung cấp thông tin một cách cập nhật cho các doanh nghiệp xuất khẩu cao su về thị trường nhập khẩu và giá cả để hàng xuất khẩu của Việt Nam không bị thua thiệt so với bạn hàng trên thế giới.