Đánh giá tính công bằng và hiệu quả trong chi tiêu của chính phủ cho giáo dục đại học

1.     Tính hiệu quả trong chi tiêu cho GDĐH:
Trong GDĐH , việc trợ cấp cho một sinh viên nghèo thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên đó mà vẫn không làm ảnh hưởng đến lợi ích của những sinh viên khác. Do đó có thể nói chi tiêu cho GDĐH đạt hiệu quả Pareto; đó là hiệu quả đạt được khi không có cách nào phân bổ lại các nguồn lực để làm ít nhất một người đuợc lợi mà không phải làm thiệt hại đến bất kỳ ai.
Tuy nhiên, về phần cơ cấu tài chính giáo dục Việt Nam hiện đang có nhiều bất cập dẫn đến chi tiêu không hợp lý, kém hiệu quả trong việc sử dụng nguồn ngân sách cho GDĐH. Với tổng số tiền từ ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo như năm 2006 là 54.798 tỷ đồng thì ngành giáo dục đã dùng tới 81,8% tổng số tiền này để chi thường xuyên, số tiền để chi cho đầu tư chỉ là 10.000 tỷ, chiếm 18,2%. Tỷ lệ này khi về các địa phương còn tiếp tục mất cân đối nghiêm trọng hơn. Với 40.458 tỷ đồng ngân sách giáo dục rót về các địa phương thì có tới 34.578 tỷ để dành cho việc chi thường xuyên, chi cho đầu tư chỉ là 5.880 tỷ đồng.
Như vậy, với tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục như năm 2006 thì chủ yếu số tiền này chỉ được dùng vào chi tiêu thường xuyên, tiền dành cho đầu tư hầu như không đáng kể. Trong khi đó, tiền đầu tư ở đây được tính cho những việc như nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, trường lớp, đổi mới phương pháp dạy và học…
Tại hầu hết các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ và ngay ở những quốc gia láng giềng như Trung Quốc, tỷ lệ chi thường xuyên chỉ chiếm khoảng 40% trong tổng chi, 60% còn lại dành cho việc tái đầu tư.
1.2.     Tính công bằng trong chi tiêu cho GDĐH:
Nhận thức về khái niệm công bằng cũng không hoàn toàn không đồng nhất. Có 2 cách hiểu khác nhau về công bằng xã hội:

Công bằng ngang: là sự đối xử như nhau đối với những người có tình trạng kinh tế như nhau (được xét theo một số tiêu chí nào đó như thu nhập,hoàn cảnh gia đình,tôn giáo,dân tộc…). Đối với hàng hóa giáo dục,ai cũng đều có quyền đi học không phân biệt thành phần cấp bậc,chủng tộc,tốn giáo v..v…đó là công bằng ngang.

  • Công bằng dọc: là đối xử khác nhau với những người có khác biệt bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có. Hãy so sánh giữa giáo dục phổ thông và giáo dục đại học, có thể thấy với kiến thức phổ thông mọi người đều có khả năng tiếp thu và tích lũy được như nhau, nhưng với giáo dục đại học thì không phải ai cũng có thể. Có thể nói đầu vào đại học đã cho thấy được sự phân loại: người có khả năng tích lũy tri thức nhiều hơn cùng với khả năng tài chính sẽ có cơ hội vào đại học cao hơn những người khác. Như vậy nền giáo dục đại học cho thấy rõ đã có sự phân bổ theo công bằng dọc trong hệ thống giáo dục.

Nếu như công bằng ngang có thể thực hiện bởi cơ chế thị trường, thì công bằng dọc cần có sự điều tiết của nhà nước. Chính phủ thực thi chính sách phân phối theo công bằng dọc nhằm giảm chênh lệch về phúc lợi giữa các cá nhân.

2.     Mối quan hệ giữa hiệu quả và công bằng:

  • Có hai quan điểm về vấn đề này :

Trường phái cho rằng hiệu quả và công bằng có mâu thuẫn với nhau. Theo quan điểm này, nếu ưu tiên hiệu quả phải chấp nhận bất công và ngược lai.
Trường phái cho rằng không nhất thiết phải có sự mâu thuẫn. Theo quan điểm này, nếu có hiệu quả thì sẽ có công bằng và ngược lại.

  • Nhưng dù là quan điểm nào thì trong giai đoạn đầu của việc trợ cấp vẫn không thể cùng một lúc đạt được hai mục tiêu mà phải tùy vào đối tượng nhận trợ cấp và xu hướng phát triển kinh tế và các chính sách của chính phủ. Chẳng hạn, Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, do vậy chúng ta luôn đặt vấn đề công bằng làm mục tiêu hàng đầu trong hoạt động trợ cấp của chính phủ.
  • Nhưng thực tế thì chính sách trợ cấp của chúng ta vẫn chưa thật sự công bằng. Đa số chỉ có các trường đại học công lập là nhận được nhiều trợ cấp của chính phủ còn các trường tư ích được trợ cấp hơn. Nhưng để vào học được trường công là một điều khó khăn; so sánh hai đối tượng sau: các học sinh ở vùng sâu vùng xa, điều kiện học tập kém và học sinh ở tỉnh, thành phố có điều kiện học tập tốt thì đối tượng thứ hai có khả năng thi vào trường đại học công lập hơn; trong khi đó đối tượng thứ nhất mới thực sự cần nhận trợ cấp để trang trải cho quá trình tiếp tục học ở đại học.