Đánh giá tính hình quản lý xử lý CTRYT tại TPHCM

1 Những mặt đạt được

1.1 Hiệu quả môi trường

Trước những nỗ lực của các ban ngành Nhà nước và sự tham gia thực hiện tích cực của các cơ sở y tế trong công tác quản lý xử lý CTYT-CTRYTNH, thì bước đầu thành phố đã kiểm soát được lượng CTRYT thải ra. Cụ thể là khối lượng chất thải trên ngay sau khi phát sinh (14,8 tấn/ngày năm 2012)  đã được quản lý xử lý triệt để, và điều đó không những góp phần đảm bảo vệ sinh môi trường toàn thành phố , mà còn tránh được các nguy cơ lây nhiễm cho người dân.

1.2 Hệ thống kỹ thuật

Nhìn chung, hệ thống kỹ thuật quản lý chất thải rắn y tế nguy hại trên địa bàn TP.HCM đến nay hoạt động khá ổn định và đồng bộ từ thu gom tại nguồn đến xử lý tiêu huỷ:

+Dưới sự quản lý của Sở Y tế và tác động tích cực của hệ thống thu gom, xử lý do Sở Tài nguyên & Môi trường quản lý, công tác phân loại tại nguồn được thực hiện ở hầu hết các bệnh viện công lập, và 50-70% ở khối dân lập thực hiện tích cực.

+Hệ thống thu gom, vận chuyển CTRYT bao phủ toàn bộ thành phố với sự tham gia của 22 công ty DVCI quận/huyện. Đây thực sự là công cụ hữu hiệu không những giúp mở rộng mạng lưới thu gom, mà còn tác động, lôi kéo hệ thống dịch vụ y tế (cơ sở y tế) vào công tác quản lý môi trường, cụ thể là công tác tổ chức phân loại tại nguồn.

+Cơ sở vật chất, trang thiết bị đầy đủ (chuyên dụng) đáp ứng được yêu cầu và có kiểm soát, làm chủ được tình hình. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay, ghi nhận chưa có sự cố nghiêm trọng nào xảy ra của hệ thống, trong đó Công ty CITENCO được giao trách nhiệm quản lý về mặt kỹ thuật. Nét mới đặc biệt thể hiện sự sáng tạo phù hợp với tình hình thực tế TP.HCM đó là, ngoài xe tải chuyên dụng vận chuyển CTRYT thì năm 2012 đã xuất hiện thêm xe môtô 2 bánh. Đây được xem là công cụ hữu đắc lực dùng để vận chuyển chất thải y tế ở những cơ sở có khối lượng nhỏ (phòng khám, nhà thuốc, ….), giúp tiết kiệm chi phí vận chuyển đến các địa điểm trung chuyển, và kiểm soát được toàn bộ lượng rác y tế ở các cơ sở nhỏ.

Như vậy, đối với quản lý chất thải y tế, đến giai đoạn hiện nay vai trò của Nhà nước vẫn giữ vị trí chủ đạo, trong khi vai trò của hệ thống tư nhân vẫn còn rất mờ nhạt.

1.3 Hệ thống chính sách

  • Trong thời gian qua, với việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương, bộ máy quản lý Nhà nước về Môi trường nói chung và chất thải rắn nói riêng tại TP.HCM đã không ngừng tăng cường, củng cố và phát triển, thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong chỉ đạo xậy dựng và thực hiên chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách về quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn Thành phố. Trải qua quá trình xây dựng và đào tạo, đến nay có thể nói hệ thống cơ quan tổ chức quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tại TP.HCM là thông nhất từ cấp thành phố đến quận huyện với tổng số cán bộ phụ trách công tác quản lý là gần 200 người, có trình độ đại học và trên đại học về lĩnh vực công nghệ và quản lý môi trường (trong đó cán bộ cấp Sở phụ trách môi trường trên 50 người, các phòng Tài nguyên và Môi trường của 24 quận/huyện có từ 3-5 cán bộ phụ trách môi trường, cán bộ phụ trách môi trường trong Ban quản lý các Khu chế xuất, khu công nghiệp TP.HCM khoảng 8-10 người).
  • Với sự phát triển ngày càng mạnh của ngành y tế với đa dạng các loại hình dịch vụ y tế thì việc ban hành kịp thời các Quyết định, chính sách… có ý nghĩa rất to lớn quyết định tính hiệu quả trong công tác quản lý xử lý chất thải rắn y tế. Cụ thể là  sau khi Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế về ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế được ban hành, thì việc phân loại và quy định về các thành phần chất thải rắn y tế có thể tái chế được rõ ràng hơn. Bên cạnh đó, nhờ sự tăng cường kiểm tra giám sát của cơ quan chức năng quản lý môi trường nên các cơ sở y tế dần đi vào thực hiện nghiêm túc việc phân loại tại nguồn, giúp cho quá trình tái chế có hiệu quả hơn.
  • Chính sách xã hội hoá việc tái chế chất thải rắn y tế không nguy hại (thành phần chất thải y tế được tái chế theo Quy chế quản lý chất thải y tế) được sự tham gia của tư nhân từ năm 2007 cho đến nay. Đây là một thị trường đem lại nguồn lợi kinh tế không những cho các cơ sở bệnh viện mà còn cho các đơn vị thu mua, tái chế loại chất thải rắn y tế này. Đặc biệt, phương pháp tái chế đã giúp làm giảm đáng kể khối lượng chất thải rắn y tế mang đi xử lý theo phương pháp đốt, làm tiết kiệm kinh phí, nguyên liệu và tài nguyên thiên nhiên. Ngoài ra, việc tái chế còn tạo ra các sản phẩm có ích cho xã hội. Tuy nhiên, phương pháp tái chế này chỉ thành công, mang lại tính hiệu quả cao, an toàn khi và chỉ khi công tác phân loại chất thải rắn y tế tại nguồn được thực hiện tốt và công nghệ tái chế đảm bảo về mặt kỹ thuật.

2 Những hạn chế

2.1 Hệ thống kỹ thuật

v Phân loại và lưu trữ tại nguồn

Phân loại CTYT chưa được quan tâm đúng mức, một phần CTYT vẫn chôn lấp chung với CTR sinh hoạt. Việc phân loại chất thải rắn tại một số cơ sở không đúng theo quy định. Việc không tách riêng CTYT có thể dẫn tới các điểm bất lợi như giảm khả năng tái sử dụng chất thải hữu cơ từ CTR sinh hoạt làm phân compost, khó khăn hơn trong việc xử lý nước rò rỉ từ bãi chôn lấp CTR sinh hoạt. Đồng thời, CTR sinh hoạt lẫn với CTYT đem xử lý chung với CTYT sẽ tốn chi phí vận chuyển, xử lý và có nguy cơ lan truyền bệnh tật đối với công nhân vận chuyển, vận hành bãi chôn lấp cũng như cộng đồng dân cư xung quanh.Cụ thể là hiện nay, các bệnh viện lớn của thành phố đều đã thực hiện khá nghiêm túc công đoạn phân loại chất thải rắn và lưu trữ tại nguồn.Tuy nhiên, tại các phòng khám đa khoa, trạm y tế, phòng khám tư nhân thi công tác phân loại và lưu chứa rác y tế chưa được thực hiện đầy đủ.Việc thiếu kiến thức về phân loại chất thải y tế và kinh phí đầu tư trang thiết bị phụ vụ cho việc phân loại là lưu trữ đã gây khó khăn và trở ngại lớn cho các đơn vị, cơ sở khám chữa bệnh. Nhiều nơi phân loại và lưu trữ không đúng quy định hướng dẫn gây ô nhiễm, mất vệ sinh, không an toàn cho cả nhân viên thu gom và mọi người trong khuôn viên bệnh viện, trạm y tế…

v Thu gom và vận chuyển

  • Hệ thống thu gom rác y tế hiện đang được vận hành khá tốt nhưng mới chỉ tập trung ở khối các bệnh viện lớn. Đối với khối trung tâm y tế, phòng khám đa khoa, trạm y tế và đặc biệt là khối phòng khám tư nhân ở nhiều quận vẫn còn bỏ ngỏ. Khối lượng chất thải rắn y tế thu gom xử lý chiếm khoảng 85% còn 15% là thất thoát và chưa có giải pháp để thu gom. Hay nói cách khác là tổ chức mạng lưới thu gom chưa bao phủ toàn thành phố. Tỷ lệ chưa thu gom được có thể đi theo ba con đường, một là trộn lẫn và chất thải rắn sinh hoạt đến bãi chôn lấp, hai là được đốt tiêu huỷ tại chỗ (tại cơ sở phát sinh) và ba là thải bỏ ra môi trường. Trong đó hai con đường đốt tại chỗ và thải ra môi trường là khó thực hiện hơn, do dễ bị phát hiện với điều kiện của thành phố. Như vậy chỉ còn con đường theo chất thải rắn sinh hoạt là phổ biến.Công tác thu gom và vận chuyển  rác y tế nhiều nơi không đảm bảo an toàn cho người lao động cũng như vấn đề vệ sinh môi trường trong khu vực bệnh viện.
  • Các đơn vị thu gom chất thải rắn y tế  (các Công ty TNHH MTV DVCI quận/ huyện) trên địa bàn Thành phố hầu như đều gặp những khó khăn chung:

+Chưa có sự thống nhất về trang thiết bị chuyên dùng về an toàn trong công tác thu gom chất thải rắn y tế.

+Kinh phí thu gom chất thải rắn y tế không đủ bù đắp chi phí, gây nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động.

v Tái sử dụng và tái chế:

Nếu các quốc gia trên thế giới áp dụng phương pháp tái chế rất thành công và hiệu quả thì Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng vẫn chưa thành công và phổ biến loại hình này. Mặc dù thị trường tái chế chất thải rắn y tế không nguy hại (theo danh mục Quy chế  chất thải y tế ) từ năm 2007 đã được xã hội hoá, tuy nhiên xét về tính hiệu quả lại không có. Bởi lẽ, công tác phân loại chất thải rắn y tế chưa được thực hiện tốt dẫn đến việc tái chế vấp phải những khó khăn. Thêm vào đó, thị trường thu mua và tái chế chất thải rắn y tế từ trước đến nay vẫn hoàn toàn tự do dựa trên thoả thuận giữa bệnh viện và tư nhân, không có sự kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước, dẫn đến tình trạng, các loại nhựa chất thải y tế nguy hại thuộc danh mục không được tái chế thay vì đưa đi thiêu huỷ thì lại được bán ra ngoài để tái chế gây hoang mang cho người dân.

v Xử lý

Công đoạn xử lý của hệ thống đang có xu hướng quá tải: thường xuyên ứ đọng chất  chất thải nhất là khi có sự cố xảy ra cho lò đốt, như vậy không đảm bảo có thể giải quyết được khi có các biến cố phát sinh chất thải (chất thải y tế phát sinh không thường xuyên).

Dự báo khối lượng CTRYT cần được xử lý từ nay đến năm 2015 là khoảng 14-23 tấn/ngày. Tuy nhiên đến năm 2015, theo chủ trương thì sẽ giải toả Nghĩa trang Bình Hưng Hoà bao gồm Trung tâm hoả tán và nhà máy xử lý chất thải rắn y tế nguy hại Bình Hưng Hoà, nên chất thải y tế sẽ được tấp trung về xử lý tại nhà máy xử lý chất thải rắn y tế nguy hại Đông Thạnh. Khi đó khả năng xử lý tối đa của thành phố chỉ còn 21 tấn/ngày. Như vậy, sau năm 2015 thành phố sẽ gặp khó khăn trong xử lý chất thải rắn y tế nếu như không có kế hoạch đầu tư thêm nhà máy.

2.2 Hệ thống chính sách

  • Mặc dù quy hoạch tổng thể hệ thống quản lý chất thải của cả nước đến 2020 tầm nhìn 2030 đã được ban hành, tuy nhiên tính cho đến hiện nay thì TP.HCM vẫn chưa có quy hoạch hay chiến lược chính thức về quản lý chất thải y tế đến năm 2025-2030. Bên cạnh đó thì hệ thống quản lý chính sách hiện tại vẫn còn nhiều bất cập về trình độ, kinh phí, việc thực hiện quy chế quản lý chất thải rắn y tế không thống nhất giữa các đơn vị,…Cụ thể những khó khăn trên là:

+Thiếu nguồn kinh phí đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải rắn.

+Vấn đề quản lý chất thải y tế thông thường có thể tái chế còn bất cập. Trong thời gian qua, một số bệnh viện lơi lỏng công tác quản lý giám sát để nhân viên hợp đồng cung cấp rác thải y tế cho các cơ sở tái chế tư nhân chưa qua xử lý.

  • Công tác thanh tra, kiểm tra phân loại tại nguồn, cũng như hợp đồng thu gom, vận chuyển xử lý với công ty môi trường ở một số nơi còn nới lỏng, mang tính hình thức, hiện tượng quan liêu, hối lộ vẫn diễn ra.
  • Tái chế được xem là giải pháp làm giảm đáng kể khối lượng CTYT, tuy nhiên cho đến hiện nay cả nước nói chung và TP.HCM nói riêng vẫn chưa ban hành chính sách nào nhằm quản lý tái chế cũng như chưa ứng dụng công nghệ tái chế nào ngoài việc các cơ sở tái chế thủ công, với máy móc thô sơ không đảm bảo. Mặc dù hiện nay, TP.HCM đã có Quỹ Tái chế chất thải rắn (hoạt động chính thức vào 22/01/2007), nhưng từ lúc thành lập đến nay, Quỹ vẫn không thu hút được sự tham gia tích cực của các đơn vị tư nhân tái chế.
  • Hệ thống quản lý chất thải y tế còn thiếu tính xã hội hoá trong việc thu gom xử lý, do đó chưa có tính cạnh tranh về chất lượng và dịch vụ. Điều này cũng có thể là do thiếu tính hấp dẫn nhà đầu tư trong lĩnh vực này (không mang lại lợi nhuận cao).
  • Số liệu phục vụ cho công tác quản lý chủ yếu dựa vào số liệu hành chính (số liệu do các đơn vị báo cáo), chưa dựa vào số liệu khoa học (số liệu nghiên cứu) và các số liệu này còn rất rời rạc, Trong đó, đặc biệt là khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh không thường xuyên chưa được thống kê và dự báo.
  • Các chương trình, chính sách tuyên truyền nhằm nâng cao y thức của người dân vẫn về mức độ nguy hại của CTYT-CTRYTNH cũng như cách sử dụng và vứt chất thải đúng quy định của các cơ sở y tế chủ yêu là thông qua báo đài, truyền hình chứ chưa có chương trình thực tế nhằm hướng dẫn người dân về vấn đề này.

Như vậy, hệ thống chính sách sau những đóng góp đắc lực trong việc điều hành hệ thống quản lý CTYT, thì bên cạnh những thành quả đạt được, thì vẫn còn khá nhiều bất cập, hạn chế và khó khăn khiến cho hệ thống chính sách chưa thực sự chủ động, cũng như chưa phát huy được toàn bộ khả năng trong quá trình quản lý của mình. Do đó, hơn bao giờ hết TP.HCM cần đưa ra chiến lược, giải pháp để khắc phục nhưng lỗ hổng, để không những hệ thống chính sách phát huy hết công suất, mà kéo theo đó là năng suất hoạt động của hệ thống kỹ thuật được nâng cao hơn.

2.3 Chất lượng nguồn nhân lực

  • Tại các bệnh viện, nguồn nhân lực tham gia trực tiếp vào công tác phân loại tại nguồn mặc dù đã được trang bị đồ bảo hộ đầy đủ, cũng như có đầy đủ trang thiết bị, dụng cụ để phân loại rác (đặc biệt là các bệnh viện lớn), tuy nhiên, một thực tế  khiến cho công tác phân loại trở nên khó khăn, bởi  đội ngũ nhân viên vẫn chưa nắm rõ cũng như hiểu về kiến thức phân loại rác. Dẫn đến việc phân loại không hiệu quả gây khó khăn trong quá trình xử lý và tái chế.
  • Khu vực Nhà nước, trước những nỗ lực tích cực trong công tác quản lý chất thải y tế của các ban Ngành phải kể đến công lao của các cán bộ, nhân viên ở đây. Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức của nhiều lĩnh vực liên quan đến công tác quản lý loại chất thải này (kiến thức về môi trường, kinh tế, lý, hóa, y tế…), dẫn đến việc phối hợp giữa các ban ngành chưa thực sự đạt hiệu quả cao.

2.4 Ý thức cộng đồng

Mặc dù khả năng lây nhiễm và mức độ nguy hại của chất thải y tế đối với con người và môi trường đã tuyên truyền rộng rãi trong cộng đồng nhưng thực tế người dân vẫn chưa hiểu rõ và có ý thức trong việc vứt rác vào các thùng chứa phân loại theo quy định. Dẫn đến, CTRYT lẫn lộn với CTRSH (rác phát sinh từ nhu cầu ăn uống, sinh hoạt của người bệnh tại các bệnh viện), gây khó khăn cho công tác phân loại.