Đánh giá tình hình triển khai thực hiện thuế GTGT ở Việt Nam

Thực hiện chương trình cải cách thuế bước II, Quốc hội đã thông qua hai luật thuế mới: Luật thuế Giá trị gia tăng (thuế gián thu), Luật thuế thu nhập (thuế trực thu) và sửa đổi bổ xung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Đồng thời sửa đổi, bổ xung các luật thuế có liên quan như: Luật Nhân sách, Luật khuyến khích đầu tư trong nước…để thực hiện đồng bộ các luật thuế mới.
Với nhận thức rằng việc triển khai thực hiện các Luật thuế mới được thi hành từ 01/01/1999, có tác động nhiều mặt đến tình hình kinh tế xã hội, nên thời gian đầu không tránh khỏi những khó khăn và lại càng khó khăn hơn khi kinh tế nước ta đang bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, thiên tai lại liên tiếp sảy ra.
Ba yêu cầu phải đạt được khi thực hiện triển khai các luật thuế mới:
– Bảo đảm công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp ổn định được hoạt động sản xuất, kinh doanh, tăng cường hạch toán kinh tế, nâng cao năng lực quản lý, nâng cao cao khả năng cạnh tranh trong nước, trên thị trường quốc tế.
– Bảo đảm không ảnh hưởng lơn đến kế hoạch thu của Ngân sách Trung ương trong những năm đầu thực hiẹen. Tạo điều kiện để Ngân sách địa phương ổn định nguồn thu, nâng dần tỷ lệ các địa phương cân đối Ngân sách và có đóng góp cho Ngân sách Trung ương.
– Bảo đảm ổn định thị trường trong nước, tránh gây ra những biến động mạnh về giá cả, đặc biệt là giá vật tư, hàng hoá quan trọng dùng cho sản xuất và tiêu dùng thiết yếu để ổn định sản xuất và không ảnh hưởng đến đời sống nhân dân.
Nghị quyết số 18/1998/QH10 ngày 25/11/1988: “Chính phủ cần tập chung chỉ đạo thực hiện các luật thuế mới, nhất là luật thuế GTGT. Để chủ động giải quyết kịp thời những khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực hiện Luật thuế GTGT nhằm ổn đinhj và phát triển sản xuất, kinh doanh. Quốc hội cho phép Chính phủ trong thời gian đầu thực hiện được áp dụng quy định tại Điều 28 Luật thuế GTGT để giảm thuế đối với hoạt động thương mại, dịch vụ du lịch, ăn uống, và không khống chế mức giảm tối đa 50% số thuế GTGT phải nộp. Sau một thời gian thực hiện, Chính phủ trình UBTVQH sửa đổi bổ sung các mức thuế suấttheo qui định tại Điều 8 của Luật thuế GTGT và báo cáo Quốc hội trong kỳ họp gần nhất.

I./ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU HƠN HAI NĂM THỰC HIỆN.

Trong hai năm đầu tiên triển khai các Luật thuế mới tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần chủ động, lại được sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ chính trị, của UBTVQH, và sự điều hành thướng xuyên, cụ thể của Chính phủ, cùng với sự cố gắng của các nghành, các cấp, của các cơ quan đoàn thể, sự hưởng ứng của các đối tượng nộp thuế, sự đồng tình của nhân dân, sự nỗ lực của nghành tài chính, nghành thuế, đến nay sau một năm thực hiện các Luật thuế mới đã đi vào cuộc sống, sản xuất kinh doanh giữ được ổn định, bước đầu các Luật thuế mới đã phát huy được tác dụng trên các mặt.

1./ Về sản xuất kinh doanh.

Với việc thực hiện Luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình đầu tư xây dựng cơ bản giảm khoảng 10% so với trước đâu. toàn bộ thuế GTGT của công trình xây dựng cơ bản được hạch toán riêng không tính vào giá công trình như thuế doanh thu, vì vậy chi phí khấu hao tài sản cũng giảm thấp hơn. Các doanh nghiệp xây dựng mua sắm tài sản cố định có thuế GTGT đều được khấu trừ hoặc hoàn thuế. Mặt khác khi nhập khẩu thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng, loại trong nước chưa sản xuất được để đầu tư thành tài sản cố định theo dự án, thì không thuộc diện chịu thuế GTGT trong thời gian ba ngày kể từ ngày nộp tờ khai. Từ khi thực hiện Gnhị định só 78?NĐ-CP giảm 50% mức thuế GTGT đối với sản phẩm xây dựng cơ bản thì mức thuế GTGT các doanh nghiệp xây lắp còn phải nộp sau khi khấu trừ đầu vào bình quân chỉ còn khoảng 1% đến 2%, thấp hơn so với mức 4% khi nộp thuế doanh thu, thậm chí còn được hoàn thuế.
Thực hiện thuế GTGT còn thuc đẩy sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hoá phát triển do thuế GTGT chỉ thu trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ qua các khâu sản xuất, lưu thông đến khâu tiêu dùng cuối cùng với hai phương pháp tính thuế (phương pháp khấu trừ thuế, và phương pháp trực tiếp). Đã khắc phục nhược điểm của thuế doanh thu là thuế trùng lên thuế, đã thuc đẩu chuyên môn hoá, hiệp tác sản xuất, nhất là trong lĩnh vực sản xuất có khí như: sản xuất, lắp ráp xe đạp, xe máy, ô tô, điện, điện tử…

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có qui định chế độ khuyến khích đối với đầu tư các cơ sở sản xuất mới thành lập được miễn thuế hai năm đầu, được giảm 50% trong hai năm sau nữa. Nếu đầu tư vào những lĩnh vực, nghành nghề, vùng kinh tế được ưu đãi đầu tư sẽ được hưởng mức thuế suất thấp hơn so với các dự án khác (đầu tư trong nước hưởng thuế suất là 15%, 20%, 25%, đầu tư nước ngoài là 10%, 15%, 20%) và còn được ưu đãi miễn giảm thuế thời gian dài hơn. Thời gian được miễn giảm thuế cao nhất là 13 năm trong dó miễn thuế 4 năm đầu và giảm 50% thuế trong 9 năm tiếp theo. Ngoài ra, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp còn khuyến khích miễn, giảm thuế đối với các trường hợp đầu tư dây chuyền sản xuất mới, mở rộng qui mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng lực sản xuất, di chuyển có sở kinh doanh.

Đối với Nhà nước đã giảm mức thuế chuyển quyền sử dụng đát từ 10% xuống còn 2% đối với đát sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, đát làm muối và giảm từ 20% xuống 4% đối với đát ở, đất xây dựng công trình, đất khác. Các sơ sở kinh doanh chuyển quyền sử dụng đất thuê, không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất. Đối với các cơ sở kinh doanh được Nhà nước giao đất xây dựng nhà ở để bán, xây dựng kết cấu hạ tầng cho thuê thì đất chuyển quyền được miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất không chịu thuế GTGT tính trên giá đất chuyển quyền. Ngoài ra, Nhà nước còn giảm lệ phí trước bạ đất từ 2% xuống 1% lam cho thị trường đất đai, nhà cửa đã có dấu hiệ sôi dộng hơn trước.

Đối với phí, lệ phí đã thống nhất áp dụng một mức thu phí, lệ phí chung cho cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước. Giảm lệ phí cấ giấy phép đặt văn phòng đại diện của nước ngoài từ 5000 USD/lần (tương đương với 70 triệu đồng Việt Nam) xuống còn 1 triệu đồng/ lần và không thu lệ phí đối với trường hợp gia hạn giấy phép đặt văn phòng đại diện.

Trong quá trình thực hiện, một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những mặt hàng, dịch vụ gặp khó khăn do thuế GTGT cao hơn thuế doanh thu nhưng chưa chuyển đổi kịp cho phù hợp với có chế thuế mới và chịu sự ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ trong khu vực như: than, cơ khí (trừ sản phẩm cơ khí tiêu dùng), luyện cán, kéo kim loại, máy vi tính, oá chất cơ bản, hoá dược, vận tải, bốc xếp, xây dựng, lắp đặt, khách sạn, ăn uống, du lịch, đã được UBTVQH, Chính phủ, Bộ tài chính thực hiện các biện pháp xử lý, tháo gữo khó khăn như: giảm mức thuế nhập khẩu của 569 mặt hàng là vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước với số thuế giảm gần 1000 tỷ đồng, giảm mức thuế GTGT cho 18 loaih hàng hoá, dịch vụ mở rộng diện khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ ấn định đối với một số mặt hàng…

Bằng các nội dung chính sách và biện pháp tháo gõ khó khăn nêu trên, các Luật thuế mới đã góp phần khuyến khích đầu tư và ổn định sản xuất, kinh doanh.

Trong năm 1999, tuy gặp nhiều khó khăn do số dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm khoảng 12,3% nhưng tổng số vốn đầu tư vẫn tăng so với năm 1998, trong đó vốn đầu tư trong nước tăng khoảng 28,6%, vốn ODA tăng khoảng 16%. Thực hiện các luật thuế mới ngay sau thời gian khủng hoảng kinh tế tài chính tiền tệ nhưng sản xuất kinh doanh vẫn giữ được ổn định. NĂm 1999, tốc độ tăng trưởng GDP có xu hướng tăng lên so với năm 1998, cả năm đạt 4,8%. Tình hình tài chính của các doanh nghiệp vẫn giữ được ổn định và có thể chia ra theo các nhóm như sau:

– Nhóm các doanh nghiệp thực hiện các luật thuế mới thuận lợi hơn do mức thuế phải nộp thấp hơn so với mức thuế cũ như: điện, xi măng, phân bón, thuốc trừ sâu, xây dựng, ăn uống, lắp đặt, bưu chính viễn thông, xổ số kiến thiết, khách sạn, du lịch…

– Nhóm các doanh nghiệp thực hiện các luật thuế mới có mức thuế phải nộp tương đương với mức thuế cũ như: nghành dệt may, da giầy, điện tử, vật liệu xây dựng (trừ xi măng), đường sữa, bao bì…

– Nhóm các doanh nghiệp đang lỗ thực hiện các luật thuế mới giảm lỗ hoắc có lãi như: Dệt Nam Định, Tổng công ty vật tư Nông nghiệp, kẹo Hải Hà…

– Nhóm các doanh nghiệp trước đây lỗ, thực hiện các luật thuế mới vẫn bị lỗ như: Dệt 8/3, đạm Hà Bắc, cơ khí Hà Nội, bia Đông Nam á, công ty điện tử Đống Đa, công ty điện tử Hanel…

Để khuyến khích xuất khẩu, đại bộ phận hàng hoá xuất khẩu đều được áp dụng mức thuế suất 0%. Một số loại hàng chịu thuế xuất khẩu như: gạo, than đá, sản phẩm từ gỗ rừng trồng, bàn ghế, sản phẩm chế biến từ kim loại (dây đồng, dây nhôm…)trong năm 1999 cũng được giamt thuế xuất khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu. Cùng các biện pháp khuyến khích xuất khẩu như cho phép doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp, thành lập quĩ hỗ trợ xuất khẩu… thì việc thực hiện Luật thuế GTGT có tác dụng rõ nét nhất, trực tiếp đến khuyến khích xuất khẩu. Theo qui định của luật thuế GTGT hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất 0% tức là được hoàn toàn bộ số thuế GTGT đã nộp ở đầu vào, việc hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá thực chất là Nhà nước trợ giá cho hàng hoá xuất khẩu nên đã giúp cho doanh nghiệp xuất khẩu tập trung được nguồn hàng trong nước để xuất khẩu và có lợi thế hơn trước do giảm được giá vốn hàng xuất khẩu và vì thế góp phần tăng khả năng cạnh tranh với hàng hoá trên thị trường quốc tế. Trong năm 1999 số tiền đã hoàn thuế, tăng vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu khoảng 1.800 tỉ đồng.

Vì vậy trong điều kiện thị trường xuất khẩu bị hạn chế, giá xuất khẩu giảm nhưng với sự cố gắng của các nghanh, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu và tác động của cơ chế chính sách nên tổng trị giá xuất khẩu của nước ta năm 1999 vẫn tăng so với năm 1998 là 23.18%. Trong đó những mặt hàng được hoàn thế đầu vào nhiều, xuất khẩu tăng so với năm 1998 như: cao su 37,7%, gạo 21,4%, thuỷ sản 14,4%, rau quả 39,6%, dệt may 16%, giày dép 36,4%, thủ công mỹ nghệ 48,6% điện tử 17,5%.

Ngoài việc khuyến khích xuất khẩu, thuế GTGT cà thuế tiêu thụ đặc biệt vào hàng hoá xuất nhập khẩu đã có tác dụng cùng với thuế nhập khẩu bảo hộ có hiệu quả sản xuất trong nước. Nhất là khi Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại đa phương, song phương phải cắt giảm thuế quan, thực hiện thuế suất ưu đãi hoặc phải cắt bỏ hàng rào phi thuế quan thì việc bảo hộ sản xuất trong nước bằng thuế GTGT và thuế tiêu thụ đặc biệt là biện pháp cực kỳ quan trọng. Tính đến năm 1999, đã giảm thuế theo chương trình CEPT là 3591 dòng hàng, trong đó riêng năm 1999 là 1872 dòng hàng. Đồng thoèi nân thuế nhập khẩu của 132 mặt hàng chủ yếu là hàng tiêu dùng trong nước đã sản xuất được để bảo hộ sản xuất trong nước.

2./ Về thị trường giá cả.

Trong hai tháng đầu năm 1999, giá một số mặt hàng như: lương thực, thực phẩm, công nghệ phẩm, dược phẩm, y tế… có nhích lên so với tháng 12/1998 là do ảnh hưởng của Tết nguyên đán và một phần do một số doanh nghiệp, hộ tư nhân chưa hiểu rõ về thuế GTGT hoặc lợi dụng đã cộng thêm thuế GTGT vào giá cả để bán. Nhưng Chính phủ đã chủ động chỉ đạo về việc chuẩn bị hàng hoá phục vụ Tết, có quyết định miễn thuế GTGT trong 6 tháng đối với các cơ sở kinh doanh thương mại kinh doanh các mặt hàng lương thực, thực phẩm tươi sống và rau quả tươi. Đồng thời chỉ đạo các nghành, các cấp từ trung ương đến địa phương tăng cường quản lý tốt giá cả, thực hiện niêm yết giá cả và bán đúng giá niêm yết. Vì vậy, thị trường, giá cả đã trở lại ổn định và không có biến động lơn.
như vậy, tình hình giá cả thị trương trong năm qua đã cho thấy rằng giá cả là do qui luạt cung cầu quyết ddịnh và do Nhà nước đã có biện pháp quản lý giá kịp thời đối với những mặt hàng có sự khan hiếm giả tạo.

3./ Về thu ngân sách Nhà nước.

Triển khai các luật thuế mới được thiết kế trên cơ sở số thuế GTGT đảm bảo tương đương số thuế doanh thu, thuế thu nhập doanh nghiệp giảm gái 2000 tỷ để thực hiện chính sách ưu đãi về thuế suất, về miễn giảm thuế để khuyến khích đầu tư. Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao giảm để nâng mức khởi điểm chịu thuế và biể thuế của người trong nước và người nước ngoài. Phí, lệ phí giảm do thực hiện Nghị đinh 04 của Chính phủ nhiều khoản thu về phí, lệ phí phải cắt bỏ hoặc điều chỉnh giảm mức thu. Để đảm bào thực hiện số dự toán thu năm 1999, Quốc hội giao, đảm bảo yêu cầu chi của Ngân sách Trung ương cũng như Ngân sách địa phương, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội cho áp dụng cơ chế điều hanh ngân sách năm 1999. Đối với những địa phương bị hut thu phần điều tiết cho ngân sách địa phương do tác động của thuế GTGT thì được Trung ương bù đủ, nếu thu vượt được hưởn 50% đối với số thu so với dự toán. Nguồn hoàn thuế do ngân sách Trung ương bố trí, không lấy từ ngân sách địa phương.

Cơ chế trên cũng tạo sự yên tâm và quan tâm tích cực của các địa phương trong công tác chỉ đạo đieèu hành ngân sách nói ching, thu nói riêng. Mặt khác, do cơ chế chính sách được điều chỉnh, sửa đổi phù hợp hơn cũng góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh đối với các doanh nghiệp. Công tác chỉ đạo quản lý thu cũng chặt chẽ và tiến bộ nên kết quả thu năm 1999 đạt được dự toán Quốc hội thông qua. Tổng thu ngân sách Nhà nước ước đạt 106,8% so với dự toán. Số thu từ thuế và phí đạt 105,7% dự toán năm. Riêng số thu từ thuế GTGT thu đợc 16.590 tỷ đồng sau khi trừ số thuế phải hoàn, số còn lại tương đương với doanh thu tính theo mặt hàng năm 1999.
Xét theo địa phương thì có 61/61 tinh, thành phố đều hoàn thành và hoàn thành vượt mức dự toán năm nên khả năng các địa phương được thưởng lơn. Trong đó có 22/61 địa phương hoàn thành toàn diện cả ba chỉ tiêu chủ yếu là thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực ngoài quốc doanh. Số địa phương hụt về thuế GTGT ngân sách Trung ương phải bù thêm chỉ có 14 địa phương và số phải bù cung không lơn.

Tuy nhiên, tỷ lệ động viên thuế cà phí trên GDP của năm 1999 thấp (17,6%) chưa đạt mức độ động viên theo Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra la 20% đến 21% GDP.

4./ Về công tác quản lý hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp.

Để từng bước thực hiện chính sách công bằng về thuế, đã điều chỉnh lại từ 11 mức thuế suất thuế lợi tức xuống còn 1 mức thuế suât thu nhập doanh nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp phải phấn đấu sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, đổi mới trang thiết bị, nâng cao trình độ quản lý để thực hiện được các mức thuế suất mới. Do yêu cầu của việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Tính đúng thuế thu nhập doanh nghiệp trên nguyên tắc phải có hoá đơn, chứng từ, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp người kinh doanh chú trọng tổ chức thực hiện tốt hơn công tác mở sổ sách kée toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ. Trong năm 1999, số lượng hoá đơn các doanh nghiệp sử dụng tăng gần gấp đôi so với năm 1998 và mức sử dụng hoá đơn tăng thể hiện sự chuyển biến một bước tiến mới trong công tác sử dụng hoá đơn và quản lý của doanh nghiệp. Sự chuyển biến nầy thể hiện rõ nhất trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đã thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, hơn 200.000 hộ kinh doanh cá thể đã thực hiện chế độ kế toán hoá đơn chứng từ chuyển từ hình thức nộp thuée khoán trước đây sang nộp thuế GTGT thep phương pháp kê khai trực tiếp.

Đối với 6000 doanh nghiệp Nhà nước và hơn 2400 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài công tác kế toán, hoá đơn chứng từ đã được củng cố, có nhiều tiến bộ so với các năm trước đây.

Do làm tốt hơn công tác kế toán, hoá đơn chứng từ, các đối tượng nộp thuế đã chủ động khai lập và nộp tờ khai thuế hàng tháng tương đối đầy đủ và đúng thời hạn. Nếu như trong quí I/1999 chỉ có 75% số doanh nghiệp nộp tờ khai thuế GTGT thì đến quí IV/1999 đã tăng lên khoảng 97% đến 98% số doanh nghiệp nộp tờ khai thuế (trong đó 100% doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp tờ khai đầy đủ và đúng hạn) chỉ còn 2 đến 3% là chưa lập và nộp toè khai hoặc nộp toè khai chậm, cơ quan thuế phải ấn định số thuế phải nộp hàng tháng.

Cũng do làm tôt công tác kế toán, hoá đơn chứng từ mà các đối tượng nộp thuế đã quyết toán tài chính, quyết toán thuế nhanh hơn so với các năm trước đây. Đến hết quí I/2000 đã có hơn 75% số doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp tự kê khai nộp báo cáo quyết toán tài chính, quyết toán thuế của năm 1999 cho cơ quan thuế. Như vậy có thể khẳng đinh chính sách thuế mới găn nộp thuế với hoàn thuế đã găn với nghĩa vụ quyèen lợi của người nộp thuế, khuyến khích người nộp thuế chủ động thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước.