Đánh giá về việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và tính hội nhập quốc tế

Công tác QLNN về ĐTMSC ở nước ta đã có những bước thay đổi và chuyển mình quan trọng nhờ những ứng dụng tích cực các tiến bộ của Khoa học kỹ thuật vào trong hoạt động quản lý. Cụ thể, bằng việc ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin vào việc triển khai áp dụng đấu thầu qua mạng từ việc áp dụng thí điểm hệ thống mạng đấu thầu quốc gia năm 2009 đến nay hệ thống mạng đấu thầu quốc gia đã có những điều chỉnh, thay đổi và bổ sung nhiều tính năng hữu ích, thân thiện với người dùng, dễ dàng sử dụng và vận hành hơn, đối tượng và phạm vi bắt buộc áp dụng đấu thầu qua mạng cũng rộng rãi hơn.

Mặc dù hệ thống mạng đấu thầu quốc gia còn đang trong quá trình bổ sung, hoàn thiện và khắc phục những hạn chế, song so với công tác QLNN về ĐTMSC ở giai đoạn trước năm 2010, đến nay công tác QLNN về ĐTMSC đã có những bước tiến bộ hơn cả về công tác tổ chức quản lý, điều hành, phương pháp triển khai thực hiện và đảm bảo các yêu cầu trong đấu thầu.

Đánh giá về tính hội nhập quốc tế

Bên cạnh những khó khăn, hạn chế còn tồn tại, trong thời gian qua công tác QLNN về ĐTMSC ở nước ta đã có nhiều tích cực trong việc chủ động hội nhập quốc tế, nước ta đã chủ động tham gia ký kết nhiều hiệp định song phương, đa phương với các quốc gia trên thế giới, đặc biệt nước ta Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tham gia cộng đồng kinh tế ASEAN, tham gia ký kết Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)…trong đó có những điều khoản, thỏa thuận liên quan đến hoạt động mua sắm công của Chính phủ.

Thông qua quá trình hội nhập, nhiều văn bản luật liên quan đến lĩnh vực đấu thầu đã được rà soát, bổ sung, điều chỉnh để phù hợp với các cam kết mà Việt Nam đã ký. Theo đó pháp luật về ĐTMSC và công tác QLNN về ĐTMSC đã có những thay đổi, điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu cơ bản của công tác hội nhập. Điển hình như quá trình phát triển Luật Đấu thầu ở Việt Nam qua các giai đoạn từ quyê chế đấu thầu năm 1996, đến Luật Đấu thầu năm 2005, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu và Luật xây dựng năm 2009 và đến nay là Luật Đấu thầu năm 2013. Đồng thời với việc sửa đổi Luật là việc sửa đổi, bổ sung và thay thế hàng loạt các Nghị định, Thông tư và văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Đấu thầu và các quy định về hàng rào thuế quan, phí, lệ phí.

Cùng với việc sửa đổi Luật đấu thầu qua các thời kỳ để hình thành khung khổ pháp lý phù hợp cho lĩnh vực đấu thầu mua sắm công, trong thời gian vừa qua Việt Nam đã nỗ lực ban hành nhiều văn bản dưới luật và thường xuyên tổ chức các Hội thảo, Hội nghị để rà soát, bổ sung sửa đổi và điều chỉnh các quy định liên quan đến lĩnh vực đấu thầu mua sắm công nhằm phù hợp với xu thế phát triển và hội nhập của đất nước. Điều này được thể hiện cụ thể thông qua các văn bản được ban hành mới, hoặc sửa đổi tại Phụ lục số 07 đính kèm. Trên lĩnh vực kinh tế, Việt Nam đã hội nhập ở các cấp độ và hình thức khác nhau như tham gia các thỏa thuận thương mại ưu đãi, các hiệp định thương mại tự do, các liên minh thuế quan, tham gia thị trường chung và tham gia liên minh kinh tế, tiền tệ.

Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế hoặc tham gia ký kết các Hiệp định thương mại song phương, đa phương như khi gia nhập WTO, CPTPP và EVFTA…, Việt Nam đã có cam kết mở cửa trong tất cả các ngành, lĩnh vực. Việc ký kết nhiều, hiệp định song phương và đa phương về thương mại, đầu tư, tạo cơ sở pháp lý và tiền đề, điều kiện quan trọng về thể chế để nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế quốc tế; để pháp luật trong nước phù hợp và tương thích với pháp luật quốc tế; đồng thời, đảm bảo tính quốc tế của sự phát triển kinh tế thị trường của Việt Nam. Qua đó cho thấy, sự nỗ lực của các bộ, ngành như: Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước… trong việc chủ động hoàn thiện, sửa đổi bổ sung trình Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi và ban hành nhiều văn bản pháp luật phù hợp với xu thế hội nhập và cam kết quốc tế. Bên cạnh những thành tựu, pháp luật kinh tế đạt được trong 30 năm qua cũng còn một số tồn tại, hạn chế như: Công tác thể chế hóa và ban hành chính sách, pháp luật cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng nói chung và cụ thể hóa, hướng dẫn thực thi pháp luật kinh tế nói riêng vẫn còn chậm; Thể chế kinh tế thị trường chưa thật đồng bộ, thông suốt; Chất lượng hệ thống chính sách và pháp luật kinh tế chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của Nhà nước pháp quyền.