Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo chiều dọc

 

FDI theo chiều dọc gồm có hai dạng: FDI theo chiều dọc qua liên kết lùi và FDI theo chiều dọc qua liên kết tiến. FDI theo chiều dọc qua liên kết lùi là hoạt động đầu tư vào một ngành ở nước ngoài cung cấp nguyên vật liệu đầu vào cho các quy trình sản xuất nội địa của doanh nghiệp. Trong lịch sử, hầu hết hoạt động FDI theo hình thức này được tiến hành trong ngành công nghiệp khai khoáng, ví dụ như khai thác dầu khí, khai thác mỏ boxit, mỏ thiếc và đồng. Mục tiêu đặt ra của các hoạt động đầu tư như vậy là cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho các hoạt động hạ nguồn của công ty, ví dụ như tinh lọc dầu mỏ, luyện và tạo ra hợp kim nhôm,  thiếc. Royal Dutch/Shell, British Petroleum (BP), RTZ, Consoliated Gold Field và Alcoa chính là những ví dụ cổ điển về những công ty đa quốc gia tiến hành hoạt động FDI theo chiều dọc qua liên kết lùi như vậy.

Trong khi đó, FDI theo chiều dọc qua liên kết tiến là hoạt động đầu tư vào một ngành ở nước ngoài giúp tiêu thụ các đầu ra của các quy trình sản xuất trong nước của công ty. So với FDI qua liên kết lùi, FDI qua liên kết tiến ít phổ biến hơn. Một ví dụ về áp dụng phương thức này là trường hợp của Volkswagen. Khi Volkswagen thâm nhập thị trường nước Hoa Kỳ, công ty đã mua lại một số lượng lớn những đại lý thay vì phân phối ô tô của mình thông qua các đại lý độc lập của Hoa Kỳ.

Với cả hai phương thức FDI theo chiều dọc và FDI theo chiều ngang thì câu hỏi cần phải trả lời là tại sao một công ty lại chịu mọi khó khăn và chi phí để thiết lập các hoạt động kinh doanh của mình ở một quốc gia khác? Ví dụ như, tại sao các công ty xăng dầu như BP và Royal Dutch/Shell lại đầu tư theo chiều dọc qua liên kết lùi vào sản xuất dầu ở nước ngoài? Luận điểm về các lợi thế địa điểm riêng đã giúp lý giải về hướng của hoạt động FDI đó, cụ thể là các công ty đa quốc gia hội nhập theo chiều dọc đầu tư vào nơi có nguyên liệu thô. Tuy nhiên, luận điểm này không làm rõ được tại sao các công ty này lại không nhập khẩu các nguyên liệu do các nhà sản xuất địa phương khai thác được, cũng như tại sao các công ty như Volkswagen thấy cần phải lại xây dựng mạng lưới kinh doanh sản phẩm của riêng mình trên những thị trường nước ngoài khi mà về mặt lý thuyết, dường như việc dựa vào các đại lý nước ngoài sẽ ít tốn kém hơn? Có hai câu trả lời cơ bản cho dạng câu hỏi này. Một là luận điểm về hành vi chiến lược và hai là cách tiếp cận dựa trên sự không hoàn hảo của thị trường.

HÀNH VI CHIẾN LƯỢC

Theo lý thuyết kinh tế, thông qua liên kết theo chiều dọc và giành quyền kiểm soát các nguồn nguyên liệu thô, một công ty có thể làm gia tăng các rào cản ra nhập và đẩy những đối thủ cạnh tranh mới ra khỏi ngành.30  Các hành vi chiến lược như vậy liên quan đến FDI theo chiều dọc nếu như các nguyên liệu được tìm thấy ở nước ngoài.

Một trong những ví dụ nổi tiếng diễn ra vào những năm 1930, khi các công ty Bắc Hoa Kỳ (như Alcoa) là những công ty đi đầu trong hoạt động luyện nhôm – một sản phẩm được tách ra từ quặng boxit. Mặc dù boxit là một khoáng sản thông dụng, nhưng hàm lượng nhôm trong boxit lại rất nhỏ, vì thế hầu như việc khai thác và luyện nhôm đối với các công ty là không có lợi. Trong suốt những năm 1930, chỉ có duy nhất một mỏ boxit nằm trên đảo Caribe thuộc Trinidad với trữ lượng lớn và hàm lượng nhôm phù hợp và đủ kinh tế để khai thác và luyện được phát hiện trên thế giới. Alcoa và Alcan đã tiến hành liên kết lùi theo chiều dọc và giành quyền sở hữu mỏ quặng này. Chính hoạt động này đã tạo ra một rào cản gia nhập vào ngành công nghiệp nhôm đối với các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, bởi vì các đối thủ này không thể tiếp cận với nguồn boxit chất lượng cao vốn đã thuộc sở hữu của Alcoa và Alcan. Tất cả những công ty đã tham gia vào ngành công nghiệp này đã phải sử dụng nguồn boxit chất lượng thấp hơn so với Alcan và Alcoa và do đó gặp bất lợi hơn về chi phí. Tình trạng này còn tiếp tục diễn ra cho tới những năm 1950 và 1960, khi các mỏ chất lượng cao khác được tìm ra ở Australia và Indonesia.

Tuy nhiên, các cơ hội thiết lập các rào cản gia nhập thông qua hoạt động FDI theo chiều dọc như trên hầu như không đủ để lý giải cho hoạt động đầu tư dạng này này giữa các công ty đa quốc gia trên thế giới. Trong hầu hết những ngành công nghiệp khai thác, các mỏ khoáng sản không mang tính tập trung như trong trường hợp các mỏ boxit vào những năm 1930 và đã có rất nhiều những mỏ mới được phát hiện. Do đó, bất kỳ nỗ lực nào nhằm độc quyền tất cả trữ lượng nguyên liệu thô sẽ rất tốn kém nếu không nói là không thể.

Một nhánh khác của cách lý giải hoạt động FDI theo chiều dọc trên cơ sở hành vi chiến lược là coi hoạt động đầu tư này như một nỗ lực nhằm phá vỡ những rào cản được thiết lập bởi những công ty đã kinh doanh tại một quốc gia (chứ không phải để xây dựng các rào cản đối với việc gia nhập). Điều này có thể giúp lý giải quyết định thiết lập hệ thống bán hàng riêng của Volkswagen khi thâm nhập thị trường ô tô Bắc Hoa Kỳ. Tại thời điểm đó, GM, Ford và Chrysler đều đã có một vị trí trên thị trường với mạng lưới bán hàng của mình. Volkswagen thấy rằng cách thức duy nhất để tiếp cận nhanh chóng với thị trường Hoa Kỳ là xúc tiến sản phẩm của mình mạng bán hàng thuộc sở hữu của công ty.

SỰ KHÔNG HOÀN HẢO CỦA THỊ TRƯỜNG

Giống như trường hợp của FDI theo chiều ngang, hoạt động FDI theo chiều dọc cũng được lý giải một cách khái quát hơn theo cách tiếp cận dựa trên sự không hoàn hảo của thị trường.31 Học thuyết về sự không hoàn hảo của thị trường đưa ra hai cách lý giải về FDI theo chiều dọc. Cũng như đối với FDI theo chiều ngang, cách lý  giải đầu tiên được đưa ra trên quan điểm cho rằng có nhiều trở ngại đối với việc chuyển nhượng các bí quyết thông qua cơ chế thị trường. Cách lý giải thứ hai dựa trên quan điểm các hoạt động đầu tư vào các tài sản chuyên biệt sẽ khiến cho các công ty đầu tư gặp phải nhiều rủi ro và những rủi ro này chỉ có thể giảm đi thông qua hoạt động FDI theo chiều dọc.

Các trở ngại đối với việc chuyển nhượng các bí quyết

Chúng ta hãy xem xét trường hợp của các công ty chế biến dầu mỏ như British Petroleum và Royal Dutch/Shell. Về mặt lịch sử, các công ty này đã theo đuổi chiến lược FDI theo chiều dọc qua liên kết lùi để từ đó có được nguồn nguyên liệu dầu thô cung cấp cho các cơ sở lọc dầu ở Anh và Hà Lan. Khi hoạt động  này diễn ra vào những thập niên đầu của thế kỷ XX, cả Anh và Hà Lan đều không có nguồn cung dầu mỏ nội địa. Vậy tại sao các công ty này không nhập khẩu dầu từ các công ty ở những nước có nguồn cung dầu dồi dào như Ả Rập Xê Út và Cô-oétt?

Ban đầu, không có một công ty Ả Rập Xê Út hay Cô-oét nào có đủ chuyên môn kỹ thuật để tiến hành tìm kiếm và khai thác dầu. Do đó, BP và Royal Dutch/Shell phải phát triển bí quyết công nghệ để tiếp cận với nguồn dầu mỏ. Tất nhiên, nếu chỉ có duy nhất điều này thì cũng không thể lý giải được nguyên nhân tại sao các công ty lại tiến hành FDI, vì  khi BP và Shell đã phát triển được các bí quyết kỹ thuật cần thiết thì những công ty này cũng có thể lixăng bí quyết này cho các công ty của Ả Rập Xê út và Cô oét. Tuy nhiên, như chúng  ta thấy trong trường hợp FDI theo chiều ngang thì lixăng với vai trò là một cơ chế cho việc chuyển nhượng các bí quyết lại có thể khiến công ty rơi vào tình trạng khó khăn. Giả sử các công ty chế biến dầu mỏ thực hiện lixăng kỹ thuật khai thác của mình cho các công ty của Ả Rập Xê Út và Cô-oét thì họ sẽ phải đối mặt với rủi ro bị mất những bí quyết công nhệ này cho các công ty đó – những những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng trong tương lai. Khi nắm được các bí quyết, các công ty Ả Rập Xê Út và Cô-oét có thể sẽ phát triển hoạt động tìm kiếm và khai thác dầu sang những khu vực khác của thế giới, từ đó cạnh tranh trực tiếp với BP và Royal Dutch/Shell. Vì lẽ đó, sẽ hợp lý hơn đối với BP và Royal Dutch/Shell khi họ tiến hành hoạt động FDI theo chiều dọc qua liên kết lùi, tự khai thác dầu mỏ thay vì lixăng những bí quyết công nghệ rất có giá trị của mình cho các công ty địa phương.

Từ những ví dụ trên, có thể thấy rằng FDI theo chiều dọc qua liên kết lùi sẽ diễn ra khi một công ty có kiến thức và khả năng khai thác các nguyên liệu thô ở một quốc gia khác và tại quốc gia đó không có các nhà sản xuất hiệu quả có thể cung cấp nguyên liệu cho công ty đó.

Đầu tư vào các tài sản chuyên biệt

Theo một nhánh khác của luận điểm dựa trên sự không hoàn hảo của thị trường thì FDI theo chiều dọc sẽ diễn ra khi một công ty phải đầu tư vào các tài sản chuyên biệt – là những tài sản có giá trị phụ thuộc vào nguồn đầu vào của một nhà cung cấp nước ngoài. Trong bối cảnh này, một tài sản chuyên biệt là tài sản được tạo ra nhằm thực hiện một nhiệm vụ cụ thể và giá trị của tài sản sẽ giảm đi đáng kể khi thực hiện nhiệm vụ khác với nhiệm vụ đặt ra ban đầu. Chúng ta sẽ xem xét trường hợp của một nhà máy luyện nhôm được thiết kế và xây dựng với nhiệm vụ chế biến quặng bôxít và sản xuất nhôm. Trên thực  tế, quặng bôxít ở mỗi mỏ có sự khác nhau về hàm lượng và thành phần hóa chất. Bản thân mỗi loại quặng cần được chế biến theo cách riêng. Nếu tiến hành chế biến một loại bôxít ở một nhà máy được thiết kế cho một loại khác thì sẽ làm tăng tổng chi phí sản xuất từ 20 tới 100%.32 Do đó, giá trị mang lại của khoản đầu tư vào một nhà máy luyện nhôm phụ thuộc vào sự sẵn có của loại quặng bôxít phù hợp

Giả sử rằng một công ty nhôm của Hoa Kỳ đang đứng trước quyết định đầu tư vào một nhà máy luyện nhôm để chế biến một loại quặng nhất định. Cũng giả định rằng loại quặng này chỉ được cung cấp bởi một công ty khai thác mỏ của Australia tại một mỏ quặng bôxit duy nhất. Việc sử dụng một loại quặng khác cho nhà máy tinh luyện sẽ làm gia tăng chi phí sản xuất của công ty lên ít nhất 20%. Vì lẽ đó, giá trị của khoản đầu tư phụ thuộc vào giá quặng bôxít mà công ty của Hoa Kỳ phải trả cho công ty Australia. Nhận thức được vấn đề này, khi một công ty Hoa Kỳ đã đầu tư vào một nhà máy mới thì không gì có thể ngăn cản công ty Australia tăng giá quặng bôxít? Khi đã tiến hành đầu tư, công ty của Hoa Kỳ sẽ bị khóa chặt vào mối quan hệ với nhà cung cấp của Australia. Công ty Australia có thể tăng giá bôxít với nhận thức rằng nếu mức tăng tổng chi  phí sản xuất thấp hơn 20% thì công ty Hoa Kỳ sẽ vẫn tiếp tục mua nguyên liệu từ công ty này. (Nghĩa là chỉ khi tổng chi phí tăng nhiều hơn 20% thì công ty Hoa Kỳ mới có lợi hơn khi mua nguyên liệu từ một nhà cung cấp khác).

Công ty của Hoa Kỳ có thể giảm được mức độ rủi ro từ việc nhà cung cấp Australia tăng giá nguyên liệu một cách cơ hội bằng cách mua lại nhà cung cấp này. Nếu như có thể mua được công ty Australia hay mỏ quặng bôxít trên thì công ty Hoa Kỳ sẽ không phải lo ngại về việc giá nguyên liệu sẽ tăng sau khi họ đầu tư xây dựng nhà máy tinh luyện. Nói cách khác, công ty Hoa Kỳ sẽ thu được lợi ích kinh tế khi đầu tư FDI theo chiều dọc. Trên thực tế, những cân nhắc này đã khiến nhiều công ty sản xuất và chế biến nhôm theo đuổi hoạt động FDI theo chiều dọc – tới mức mà một tỷ lệ lớn tổng lượng quặng bôxít được chuyển nhượng giữa các công ty liên kết theo chiều

dọc.33