Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang

 

FDI theo chiều ngang là hoạt động đầu tư vào cùng ngành mà một công ty đang hoạt động tại nước chủ đầu tư. Chúng ta cần tìm hiểu tại sao các công ty gặp chọn việc mua lại hay thiết lập các đơn vị kinh doanh ở nước ngoài, khi vẫn có các phương thức thay thế như xuất khẩu và lixăng. Khi các nhân tố khác ngang bằng, FDI sẽ trở thành phương thức tốn kém và rủi ro hơn so với xuất khẩu và lixăng. FDI tốn kém hơn vì công ty đầu tư phải chịu các chi phí xây dựng các cơ sở sản xuất ở nước ngoài hoặc chi phí mua lại một doanh nghiệp nước ngoài. FDI rủi ro vì những rắc rối gắn với quá trình hoạt động kinh doanh của các công ty trong  một nền văn hoá khác với những “luật chơi” rất khác biệt. So với những công ty bản địa, một công ty đến từ một nền văn hoá bên ngoài do không biết về đặc điểm văn hoá ở nước nhận đầu tư có thể mắc phải những lỗi đắt giá. Trong khi đó, nếu tiến hành xuất khẩu, công ty sẽ không cần phải chịu các chi phí đầu tư như trong FDI, đồng thời các rủi ro liên quan tới quá trình bán hàng hoá ở nước ngoài sẽ được giảm thiểu nhờ sử dụng những đại lý bán hàng địa phương. Tương tự như vậy, khi lixăng bí quyết của mình, công ty cũng không phải chịu các chi phí và rủi ro như trong FDI. Vậy tại sao rất nhiều công ty lại ưa chuộng FDI hơn xuất khẩu và lixăng?

Câu trả lời nhanh là: Bởi vì các nhân tố khác không ngang bằng! Trên thực tế, có rất nhiều nhân tố có thể ảnh hưởng và làm thay đổi tính hấp dẫn tương đối của hoạt động xuất khẩu, lixăng và FDI như chi phí  vận chuyển, sự không hoàn hảo của thị trường, cạnh tranh, hành vi chiến lược và lợi thế địa điểm riêng. Dưới đây, chúng ta sẽ đi sâu xem xét các nhân tố này.

CHI PHÍ VẬN CHUYỂN

Nếu chi phí vận chuyển được tính vào tổng chi phí sản xuất thì việc vận chuyển các sản phẩm trên một quãng đường dài sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty. Điều này đặc biệt đúng đối với những sản phẩm có tỷ trọng giữa giá trị và trọng lượng thấp và có thể được sản xuất ở hầu như tất cả các địa điểm (ví dụ như xi măng, đồ uống có ga,…). Với những sản phẩm như vậy, so với FDI và lixăng, mức độ hấp dẫn của hoạt động xuất khẩu giảm đi. Do đó, bản thân nhân tố chi phí vận chuyển nói riêng có thể giúp lý giải tại sao Cemex đã tiến hành phương thức FDI mà không lựa chọn xuất khẩu (xem tình huống mở đầu chương). Tuy nhiên, với những sản phẩm có tỷ lệ giữa giá trị và trọng lượng cao thì chi phí vận chuyển lại chỉ là một thành phần rất nhỏ trong tổng chi phí (ví dụ như: linh kiện điện tử, máy tính cá nhân, thiết bị y tế, phần mềm máy tính…). Trong những trường hợp đó, chi phí vận chuyển hầu như không có tác động tới mức độ hấp dẫn tương đối của xuất khẩu, lixăng và FDI.

SỰ KHÔNG HOÀN HẢO CỦA THỊ TRƯỜNG (LÝ THUYẾT NỘI BỘ HOÁ)

Sự không hoàn hảo của thị trường đã góp phần quan trọng giúp lý giải tại sao các công ty ưa chuộng phương thức đầu tư FDI hơn là xuất khẩu và lixăng. Sự không hoàn hảo của thị trường là các nhân tố ngăn cản thị trường hoạt động một cách hoàn hảo. Cách lý giải FDI từ trên cơ sở thị trường không hoàn hảo này được hầu hết các nhà kinh tế lựa chọn.16 Trong các nghiên cứu về kinh doanh quốc tế, cách tiếp cận FDI dựa trên sự không hoàn hảo của thị trường thường được nhắc đến với tên gọi lý thuyết nội bộ hoá.

Đối với hoạt động FDI theo chiều ngang, sự không hoàn hảo của thị trường sẽ phát sinh trong hai trường hợp: khi có những cản trở đối với dòng chảy tự do của sản phẩm giữa các quốc gia, và khi có những cản trở đối với việc chuyển nhượng các bí quyết. (Lixăng là một cơ chế để chuyển nhượng các bí quyết). Những cản trở đối với dòng chảy tự do của sản phẩm giữa các quốc gia sẽ làm giảm khả năng sinh lợi của hoạt động xuất khẩu một cách tương đối so với FDI và lixăng. Trong khi những cản trở đối với việc chuyển nhượng các bí quyết sẽ làm gia tăng khả năng sinh lợi của FDI một cách tương đối so với lixăng. Do đó, theo lý giải xuất phát từ sự không hoàn hảo của thị trường thì FDI sẽ được ưa chuộng hơn khi có những cản trở khiến cho cho hoạt động xuất khẩu cũng như chuyển nhượng các bí quyết trở nên khó và/hoặc tốn kém hơn.

Những cản trở đối với hoạt động xuất khẩu

Các chính phủ là những nguồn chính tạo ra những cản trở đối với dòng chảy tự do của sản phẩm giữa các quốc  gia. Thông qua việc đánh thuế đối với các hàng hoá nhập khẩu, chính phủ đã làm gia tăng chi phí của hoạt động xuất khẩu một cách tương đối so với FDI và lixăng. Tương tự như vậy, chính phủ có thể hạn chế lượng hàng hoá nhập khẩu thông qua việc ban hành hạn ngạch, từ đó làm tăng tính hấp dẫn của FDI và lixăng. Ví  dụ như, chính những mối quan ngại về việc Quốc hội Hoa Kỳ có thể áp dụng các biện pháp bảo hộ và hạn ngạch nhập khẩu ô tô từ Nhật Bản đã phần nào tạo động cơ cho làn sóng FDI của các công ty ô tô Nhật  Bản vào thị trường nước này trong giai đoạn những năm 1980. Đối với các công ty ô tô của Nhật, những nhân tố trên đã làm giảm tính sinh lợi của hoạt động xuất khẩu và gia tăng tính sinh lợi của FDI. Tương tự  như vậy, hoạt động đầu tư của các công ty ô tô phương Tây ở Nga trong đầu những năm 2000 một phần có động cơ là các rào cản thuế cao đối với ô tô nhập khẩu vào quốc gia này.

Những cản trở đối với việc chuyển nhượng các bí quyết

Lợi thế cạnh tranh của nhiều công ty có được từ những bí quyết công nghệ, marketing hay quản lý của những công ty này. Bí quyết công nghệ có thể cho phép một công ty tạo ra một sản phẩm tốt hơn, ví dụ như bí quyết công nghệ của Nokia đã tạo cho công ty này một vị thế cạnh tranh mạnh trên thị trường thiết bị điện thoại không dây toàn cầu. Ngoài ra, các bí quyết công nghệ có thể giúp cải thiện quy trình sản xuất của công ty so với quy trình của các đối thủ cạnh tranh. Ví dụ như trường hợp của Toyota, rất nhiều quan điểm cho rằng lợi thế cạnh tranh của công ty này có được từ hệ thống sản xuất tuyệt vời mà công ty này sở hữu. Bí quyết marketing có thể cho phép một công ty định vị sản phẩm của mình tốt hơn trên thị trường. Có thể nói, lợi thế cạnh tranh của những công ty như Kellogg, H.J. Heinz và Procter & Gamble bắt nguồn từ bí quyết marketing của họ. Bí quyết quản lý cùng với các yếu tố như cơ cấu tổ chức, quan hệ con người, hệ thống kiểm soát, hệ thống xây dựng kế hoạch, quản lý hàng tồn kho… có thể cho phép một công ty quản lý tài sản của mình một cánh hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Ví dụ như, Cemex đã sử dụng bí quyết công nghệ của mình để quản lý tốt hơn nhu cầu khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như sử dụng các kiến thức về marketing để xây dựng uy tín của mình trên thị trường như một công ty rất coi trọng khách hàng (xem tình huống mở đầu chương).

Nếu xem xét các bí quyết (chuyên môn) như một tài sản cạnh tranh thì lợi nhuận thu được từ tài sản này càng nhiều khi thị trường sử dụng các bí quyết này càng lớn. Áp dụng vào trường hợp của Nokia, ta có thể thấy rằng thông qua việc bán các thiết bị điện thoại không dây trên khắp thế giới, công ty có thể thu được lợi nhuận lớn hơn nhiều so nếu chỉ kinh doanh sản phẩm ở riêng thị trường Phần Lan. Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét riêng yếu tố này thì cũng không thể giải thích được tại sao Nokia lại tiến hành FDI (công ty có các cơ sở sản xuất trên khắp thế giới). Trên thực tế, để Nokia lựa chọn phương thức FDI thì phải có hai điều kiện được thoả mãn. Thứ nhất  là, chi phí vận chuyển và/hoặc những cản trở đối với xuất khẩu phải đủ lớn để xuất khẩu không còn là một lựa chọn của công ty. Thứ hai, phải có lý do để Nokia không thể bán được các bí quyết về các sản phẩm không dây cho các nhà sản xuất nước ngoài. Thông thường, vì lixăng là cơ chế chính để các công ty chuyển nhượng các bí quyết của mình, cho nên chắc hẳn phải có những lý do để Nokia không sẵn sàng lixăng cho một công ty nước ngoài sản xuất và cung cấp các thiết bị điện thoại di động của công ty. Khi những nhân tố khác ngang bằng, lixăng  có thể sẽ là lựa chọn hấp dẫn với các công ty như Nokia bởi vì công ty sẽ không phải chịu các khoản chi phí và rủi ro như khi tiến hành FDI mà vẫn có thể thu được lợi nhuận cao từ các bí quyết dưới dạng phí lixăng.

Các lý thuyết về kinh tế ủng hộ ba lý do giải thích tại sao thị trường thường không hoạt động hiệu quả với vai trò là một cơ chế tạo điều kiện cho việc chuyển nhượng các bí quyết, hay giải thích tại sao lixăng kém hấp dẫn hơn so với khi mới xuất hiện. Thứ nhất, lixăng có thể dẫn đến khả năng công ty bị mất bí quyết của mình cho các đối thủ cạnh tranh tiềm năng. Ví dụ như vào những năm 60, RCA đã lixăng công nghệ vô tuyết màu hàng đầu của mình cho một số công ty Nhật Bản, bao gồm Matsushira và Sony. Tại thời điểm đó, RCA đã  nhìn nhận lixăng như một cách thức để thu được khoản lợi lớn từ bí quyết công nghệ của mình ở thị trường Nhật Bản mà không phải chịu chi phí và rủi ro như đầu tư FDI. Tuy nhiên, Matsushita và Sony đã nhanh chóng thâu tóm và sử dụng  công nghệ của RCA để thâm nhập vào thị trường nước Hoa Kỳ và cạnh tranh trực tiếp với RCA. Kết quả là, RCA hiện nay chỉ là một công ty nhỏ trên sân nhà trong khi đó, Matsushita và Sony lại nắm được thị phần lớn hơn nhiều.

Thứ hai, lixăng không mang lại cho một công ty quyền kiểm soát chặt chẽ đối với hoạt động sản xuất, marketing và chiến lược ở nước ngoài. Đây có thể là điều kiện cần để khai thác những lợi thế từ bí quyết  nhằm thu lợi nhuận. Đối với hoạt động lixăng, quyền kiểm soát đối với các hoạt động và chiến lược trên được chuyển cho bên nhận lixăng để đổi lấy phí lixăng. Tuy nhiên, công ty tiến hành lixăng có thể mong muốn duy trì sự kiểm soát đối với các hoạt động này vì những lý do liên quan đến chiến lược cũng như vận hành. Ví dụ như, một công ty có thể muốn các công ty con nước ngoài của mình định giá và tiến hành bán sản phẩm một cách mạnh mẽ để kìm hãm hoạt động của đối thủ cạnh tranh nhưng bên nhận lixăng, vì cần thu lợi nhuận, có thể không muốn thực hiện những hoạt động chỉ nhằm giúp cho bên lixăng. Có thể thấy được điều này trong trường hợp của Kodax. Kodax đã sử dụng các chi nhánh ở Nhật Bản để tấn công mạnh vào đối thủ cạnh tranh toàn cầu là Fuji Film. Ý tưởng phía sau chiến lược này của Kodax là khiến cho Fuji phải bận rộn với việc phòng vệ ở thị trường nước mình, do đó giảm khả năng tấn công mạnh mẽ trên thị trường Hoa Kỳ. Trong khi công ty con ở Nhật Bản thuộc sở hữu toàn phần của Kodak phải chấp nhận thực hiện theo định hướng chiến lược như trên của công ty thì một bên nhận lixăng có thể không tuân theo sự áp đặt như vậy, bởi vì việc áp dụng chiến lược này sẽ khiến bên nhận lixăng thu được mức lợi nhuận thấp, thậm chí là thua lỗ.

Bên cạnh đó, một công ty có thể mong muốn kiểm soát hoạt động của một thực thể nước ngoài nhằm mục đích tận dụng sự khác biệt về chi phí nhân tố giữa các nước, qua đó công ty chỉ cần sản xuất một phần sản phẩm cuối cùng ở một quốc gia nhất định trong khi nhập khẩu những phần khác từ những quốc gia nơi sản phẩm được sản xuất với mức chi phí thấp hơn. Thế nhưng, bên nhận lixăng có thể không chấp nhận sự dàn xếp như vậy bởi điều đó sẽ giới hạn sự tự chủ của họ. Như vậy, khi công ty muốn kiểm soát chặt chẽ đối với một thực thể nước ngoài thì FDI theo chiều ngang được ưa chuộng hơn so với lixăng.

Thứ ba, bí quyết của một công ty có thể không phù hợp với lixăng. Điều này đặc biệt đúng đối với bí quyết quản lý và marketing. Lixăng việc sản xuất một sản phẩm cụ thể cho một công ty nước ngoài là một việc, thế nhưng việc lixăng cách thức hoạt động kinh doanh của một công ty – cách thức công ty quản lý các quy trình và tiêu thụ các sản phẩm lại – là một điều hoàn toàn khác. Chúng ta sẽ xem xét trường hợp của Toyota. Toyota là một công ty được biết đến với lợi thế cạnh tranh trong ngành ô tô toàn cầu bắt nguồn từ khả năng quản lý tổng thể quy trình thiết kế, điều hành, sản xuất và bán sản phẩm. Nói cách khác, lợi thế cạnh tranh bắt nguồn từ bí quyết quản lý và tổ chức của công ty. Toyota là công ty tiên phong phát triển một quy trình sản xuất mới – quy trình sản xuất tinh gọn. Quy trình này đã cho phép công ty sản xuất ra những sản phẩm ô tô với chất lượng cao hơn với mức chi phí thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh toàn cầu của công ty.17 Mặc dù Toyota có những sản phẩm đã được lixăng, thế

nhưng lợi thế cạnh tranh của công ty này bắt nguồn chính từ bí quyết quản lý và quy trình. Những bí quyết này rất khó quy định rõ ràng và hầu như không thể nêu cụ thể trong một hợp đồng lixăng đơn giản. Những  bí  quyết này trải rộng trên toàn bộ tổ chức, được phát triển qua nhiều năm mà không thuộc về riêng bất kỳ một cá nhân nào. Các kỹ năng của Toyota nằm trong văn hóa tổ chức của công ty mà văn hóa là nhân tổ không thể chuyển quyền sử dụng được. Vì vậy, khi Toyota chuyển hướng khỏi chiến lược xuất khẩu truyền thống, công ty đã theo đuổi chiến lược FDI thay vì lixăng cho các công ty nước ngoài. Cemex cũng thực hiện chiến lược tương tự như Toyota. Vì bí quyết nằm trong các kỹ năng quản lý và quy trình tổ chức nên các bí quyết của Cemex liên quan tới công nghệ, marketing và quản lý của công ty cũng khó có thể được chuyển qua một hợp đồng lixăng. Do đó, FDI là cách thức hợp lý để Cemex mở rộng hoạt động trên phạm vi quốc tế.

Tất cả những điều được đề cập ở trên đã chỉ ra rằng hoạt động của thị trường với vai trò là một cơ chế chuyển nhượng các bí quyết sẽ thất bại và FDI có khả năng sinh lợi nhiều hơn so với lixăng khi một trong những điều kiện dưới đây xuất hiện: (1) khi một công ty sở hữu những bí quyết có giá trị nhưng lại không thể bảo vệ một cách đầy đủ qua một hợp đồng lixăng, (2) khi một công ty kiểm soát chặt chẽ một thực thể nước ngoài để từ đó tối đa hóa thị phần và thu nhập ở quốc gia đó, và (3) khi các kỹ năng và bí quyết của một công ty không thể đưa thành các quy định để tiến hành lixăng.

HÀNH VI CHIẾN LƯỢC

Một lý thuyết khác được sử dụng để giải thích cho hoạt động FDI được xây dựng dựa trên quan điểm cho rằng dòng FDI phản ánh sự cạnh tranh chiến lược giữa các công ty trên thị trường toàn cầu. Phiên bản ban đầu của lập luận này được F.T. Knickerbocker đưa ra. F.T. Knickerbocker đã nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và cạnh tranh trong những ngành độc quyền nhóm.18 Độc quyền nhóm là một ngành có một số lượng hạn chế các công ty lớn (ví dụ như một ngành trong đó 4 công ty nắm giữ 80% thị trường nội địa). Một đặc điểm cạnh tranh quan trọng của những ngành này là sự phụ thuộc lẫn nhau của những công ty tham gia. Hoạt động của một công ty có thể gây ảnh hưởng ngay lập tức tới những đối thủ cạnh tranh chính và buộc những công ty này phải có những hành động tương tự. Nếu một công ty trong độc quyền nhóm giảm giá bán, thì hành động này có thể làm giảm thị phần của các đối thủ cạnh tranh, do đó buộc các công ty này cũng phải giảm giá tương tự để duy trì thị phần. Vì thế, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các công ty trong độc quyền nhóm dẫn tới các hành vi bắt chước, cụ thể là các đối thủ cạnh tranh thường bắt chước ngay những gì mà một công ty trong nhóm thực hiện.

Hành vi bắt chước có thể có nhiều dạng trong độc quyền nhóm. Một công ty tăng giá thì các công ty khác cũng theo sau; một công ty  mở rộng năng lực hoạt động thì các công ty đối thủ cũng bắt chước theo để  không  phải ở vị trí bất lợi trong tương lai. Knickerbocker đã lập luận rằng những kiểu hành vi bắt chước như vậy làm nên đặc điểm của FDI. Xem xét một độc quyền nhóm tại Hoa Kỳ trong đó có ba công ty A, B và C đang thống trị thị trường. Công ty A thành lập một công ty con ở Pháp. Công ty B và C cho rằng nếu hoạt động đầu tư của A thành công thì các sản phẩm xuất khẩu của hai công ty sẽ bị đánh bật ra khỏi thị trường Pháp và tạo cho A lợi thế của người tiên phong. Thêm vào đó, công ty A có thể sẽ tìm thấy những tài sản cạnh tranh ở thị trường Pháp và đem những tài sản này trở về thị trường Hoa Kỳ để đánh bật B và C ra khỏi mảnh đất của mình.  Với những khả năng trên, hai công ty B và C đã quyết định theo công ty A và thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh ở Pháp.

Các nghiên cứu về hoạt động FDI của các công ty Hoa Kỳ trong giai đoạn những năm 1950 và 60 đã chỉ ra rằng các công ty trong các ngành độc quyền nhóm có xu hướng bắt chước hoạt động FDI của nhau. Hiện tượng tương tự liên quan tới hoạt động FDI cũng xuất hiện ở các công ty Nhật trong những năm 1980. Ví dụ như Toyota và Nissan đã phản ứng với hoạt động đầu tư của Honda ở Hoa Kỳ và Châu Âu bằng cách tự tiến hành FDI ở hai thị trường này. Gần đây, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các mô hình hành vi chiến lược trong độc quyền nhóm toàn cầu có thể lý giải cho hoạt động FDI trong ngành sản xuất lốp toàn cầu. Lý thuyết của Knickerbocker có thể được mở rộng ra bao gồm cả khái niệm cạnh tranh đa điểm. Cạnh tranh đa điểm nảy sinh khi nhiều công ty đối đầu với  nhau tại các thị trường khu vực, thị trường quốc gia hoặc các ngành khác nhau. Các lý thuyết kinh tế cho thẩy rằng, giống như những người chơi cờ sử dụng các mẹo để dành lợi thế, các công ty sẽ cố gắng theo đuổi từng động thái của các đối thủ trên các thị trường khác nhau để kiểm soát hoạt động của nhau. Điều này sẽ giúp các công ty đảm bảo rằng đối thủ của mình sẽ không giành được vị trí chủ đạo trên một thị trường, từ đó sử dụng những khoản lợi nhuận tạo ra ở đó để tài trợ cho những chiến lược tấn công cạnh tranh ở các thị trường khác. Ví dụ như Kodax và Fuji Photo Film Co., đã cạnh tranh với nhau trên khắp thế giới. Nếu Kodax tham gia vào một thị trường nước ngoài nào đó thì Fuji cũng theo bước kịp thời. Fuji cảm thấy cần phải theo đuổi Kodax để đảm bảo rằng Kodax không nắm được vị trí chủ đạo ở một thị trường nước ngoài, từ đó có thể giúp Kodax  giành được lợi thế cạnh tranh tại thị trường khác. Và ngược lại, Kodax cũng đã theo sát Fuji khi công ty của Nhật Bản này thâm nhập vào một thị trường nước ngoài.

Mặc dù lý thuyết Knickbocker và sự mở rộng của lý thuyết này có thể lý giải các hành vi FDI bắt chước của các công ty trong các ngành độc quyền nhóm nhưng lại không giải thích được tại sao công ty đầu tiên quyết định tiến hành FDI chứ không xuất khẩu hay lixăng. Trong khi đó, cách lý giải từ góc độ không  hoàn hảo của thị trường đã chỉ ra hiện tượng này. Lý thuyết về sự bắt chước cũng không tiếp cận vấn đề liệu FDI có hiệu quả hơn so với xuất khẩu hay lixăng trong mở rộng hoạt động ra nước ngoài hay không. Một lần nữa, cách tiếp cận từ sự không hoàn hảo của thị trường cũng xem xét vấn đề hiệu quả. Vì những lý do trên, nhiều nhà kinh tế học đã ủng hộ cách tiếp cận này mặc dù hầu hết họ đều đồng ý rằng những lý giải mà lý thuyết về sự bắt chước cũng đóng một vai trò quan trọng trong câu chuyện về FDI.

VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM

Lý thuyết về vòng đời sản phẩm của Raymond Vernon được mô tả ở phần đầu chương này cũng được sử dụng  để lý giải cho hoạt động FDI. Theo Vernon, thông thường chính những công ty tiên phong cung cấp một sản phẩm ở thị trường nội địa cũng tiến hành hoạt động FDI để sản xuất sản phẩm tiêu dùng ở thị trường nước ngoài. Ví dụ như Xerox là công ty đầu tiên giới thiệu sản phẩm máy photo ở Hoa Kỳ và cũng chính Xerox đã xây dựng các nhà máy sản xuất ở Nhật (Fuji-Xerox), Anh (Rank-Xerox) để cung cấp cho những thị trường này. Theo quan điểm của Vernon, các công ty tiến hành FDI ở những giai đoạn cụ thể trong vòng đời của một sản phẩm mà họ là nhà cung cấp đầu tiên. Các công ty này sẽ đầu tư vào những nước tiên tiến khác khi nhu cầu nội địa ở những nước đó tăng lên đủ lớn để khuyến khích hoạt động sản xuất trong nước (giống như trong trường hợp Xerox đã đầu tư). Sau đó, họ chuyển hoạt động sản xuất sang các nước đang phát triển khi sự tiêu chuẩn hoá sản phẩm và sự bão hoà của thị trường làm gia tăng áp lực chi phí và sự cạnh tranh về giá. Lúc đó, hoạt động đầu tư vào các nước đang phát triển, nơi có mức chi phí lao động thấp hơn, được coi là cách thức đầu tư để giảm chi phí tốt nhất.

Lý thuyết của Vernon cũng có những đóng góp nhất định. Các công ty tiến hành đầu tư vào một nước khác khi nhu cầu của nước này tạo điều kiện khuyến khích hoạt động sản xuất nội địa, đồng thời họ cũng đầu tư vào những địa điểm có chi phí thấp (ví dụ như vào các nước đang phát triển) khi áp lực về chi  phí gia tăng. Tuy nhiên, lý thuyết của Vernon đã không lý giải được tại sao trong những trường hợp đó việc tiến hành FDI mang lại khả năng sinh lợi cho công ty hơn hoạt động xuất khẩu hàng hoá hay lixăng sản xuất sản phẩm cho một công ty ở nước ngoài. Nếu chỉ bởi vì nhu cầu ở nước nhận đầu tư đủ lớn để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất nội địa, thì cũng không thể khẳng định rằng việc đầu tư sản xuất là lựa chọn có khả năng sinh lợi cao nhất. Trên thực tế, việc sản xuất ở nước chủ nhà và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài vẫn có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho công ty (thông qua tận dụng lợi thế về quy mô – lợi thế hình thành khi công ty cung cấp sản phẩm phục vụ thị trường toàn cầu từ một địa điểm sản xuất). Ngoài ra, công ty cũng có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn khi lixăng cho một công ty nước ngoài để sản xuất ra sản phẩm nhằm tiêu thụ trên thị trường nước đó. Lý thuyết vòng đời sản phẩm đã bỏ qua những lựa chọn này mà thay vào đó chỉ đơn giản cho rằng khi thị trường của một nước có dung lượng đủ lớn để hỗ trợ cho hoạt động sản xuất ở nước đó thì hoạt động FDI sẽ diễn ra. Chính điều này đã làm giảm khả năng lý giải và áp dụng của lý thyết này đối với hoạt động kinh doanh vì nó không xác định được rõ khi nào việc đầu tư ra nước ngoài là có lợi cho các công ty đầu tư.

LỢI THẾ ĐỊA ĐIỂM RIÊNG

Nhà kinh tế học người Anh, John Dunning, cho rằng, bên cạnh rất nhiều các nhân tố được bàn luận ở trên, những lợi thế về địa điểm riêng cũng có thể giúp lý giải bản chất và hướng của hoạt động FDI. Theo Dunning, lợi thế địa điểm riêng là những lợi thế nảy sinh từ việc sử dụng các nguồn lực hoặc tài sản sẵn có gắn liền với một địa điểm cụ thể ở nước ngoài và cũng là những lợi thế có giá trị khi công ty kết hợp chúng với các tài sản riêng có của mình (ví dụ như các bí quyết công nghệ, marketing hoặc quản lý của công ty). Dunning thừa nhận quan điểm về của lý thuyết nội bộ hoá cho rằng thất bại thị trường khiến cho một công ty khó tiến hành lixăng các tài sản riêng của mình (bí quyết). Do đó, theo ông, sự kết hợp những tài sản hay nguồn lực gắn với một địa điểm với những tài sản riêng của công ty thông thường đòi hỏi công ty phải tiến hành hoạt động FDI. Để có được sự kết hợp đó, công ty phải thiết lập các cơ sở sản xuất ở nơi có các tài sản hay nguồn lực đó. (Dunning đã gọi đây là mô hình chiết trung).

Một trong những ví dụ điển hình minh chứng cho lập luận của Dunning là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, như dầu mỏ và các loại khoáng sản khác. Đây là những nguồn lực thuộc về những địa điểm nhất định. Dunning đã gợi ý rằng một công ty cần phải tiến hành FDI để khai thác được những tài sản nước ngoài đó. Chính điều này đã lý giải tại sao hoạt động FDI đã được tiến hành bởi rất nhiều các công ty dầu mỏ trên thế giới, vốn là những công ty phải đầu tư vào những nơi có nguồn dầu mỏ để từ đó kết hợp được những kiến thức về công nghệ và quản lý của mình với những nguồn lực có giá trị đó. Một ví dụ khác đó là nguồn nhân lực có giá trị, cụ thể như nguồn lao động có kỹ năng cao với mức chi phí thấp. Chi phí và kỹ năng của lao động ở mỗi nước là khác nhau. Chính bởi  nguồn lao động này không được coi là nguồn lực di chuyển trên phạm vi quốc tế cho nên, theo Dunning, việc các công ty đặt các cơ sở sản xuất của mình ở những nơi mà chi phí và kỹ năng của người lao động địa phương phù hợp nhất với quy trình sản xuất cụ thể của mình là hợp lý.

Tuy nhiên, những gợi ý trong lý thuyết của Dunning vượt ra ngoài những nguồn lực cơ bản như nguồn tài nguyên khoáng sản hay nguồn lao động. Chúng ta hãy xem xét trường hợp của Silicon Valley – trung tâm của ngành công nghiệp máy tính và bán dẫn trên thế giới. Rất nhiều các công ty máy tính và bán dẫn lớn trên  thế giới như Apple Computer, Applied Materials và Intel đã có mặt ở ngay bên cạnh nhau trong khu vực Silicon Valley ở California này. Vì lẽ đó, hầu hết những hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm quan trọng trong ngành máy tính và bán dẫn đã diễn ra ở đây. Theo lập luận của Dunning, kiến thức về thiết kế và sản xuất máy tính cũng như các sản phẩm bán dẫn được tạo ra ở Silicon Valley không có ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Khi được thương mại hoá, các kiến thức này lan truyền trên khắp các nơi, thế nhưng địa điểm hàng đầu về việc tạo ra những kiến thức trong ngành máy tính và sản phẩm bán dẫn vẫn là Silicon Valley. Theo ngôn ngữ của Dunning, điều này có nghĩa là Silicon Valey có lợi thế địa điểm riêng trong việc tạo ra những kiến thức liên quan tới ngành máy tính và bán dẫn. Lợi thế này một phần bắt nguồn từ sự tập trung nguồn lực trí tuệ ở mức độ cao và một phần từ mạng lưới liên lạc phi chính thức cho phép các công ty được hưởng lợi từ quá trình tạo ra kiến thức mới của nhau. Các nhà kinh tế học gọi các “tác dụng tràn” kiến thức đó là các nhân tố ngoại vi và theo một lý thuyết có uy tín khác thì các công ty có thể được hưởng lợi từ những nhân tố ngoại vi này khi đặt địa điểm gần với nguồn sinh ra chúng.

Trong trường hợp này, việc các công ty máy tính và bán dẫn nước ngoài đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và (có thể) các cơ sở sản xuất tại đây là có lý. Các công ty này có thể tìm hiểu và tận dụng những kiến thức mới có giá trị trước những công ty có trụ sở tại nơi khác và nhờ đó có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.26 Các dẫn chứng cho thấy các công ty máy tính và bán dẫn của Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đang tiến hành đầu tư vào khu vực Silicon Valley bởi vì họ mong muốn được hưởng lợi từ những nhân tố ngoại vi nảy sinh tại đây. Một số khác cho rằng chính mong muốn tiếp cận được với kiến thức công nghệ mang tính chất địa điểm riêng của các công ty công nghệ sinh học của Hoa Kỳ đã thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp của các công ty nước ngoài vào ngành này ở Hoa Kỳ. Do đó, lý thuyết của Dunning dường như là một sự bổ sung hữu ích cho những học thuyết được đề cập ở trên, vì nó giúp lý giải cách thức các nhân tố địa điểm ảnh hưởng tới hướng của FDI.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • fdi theo chiều ngang
  • đẩu tư trực tiếp hàng ngang
  • lợi ích fdi theo chiều ngang
  • yeu to quan trong quyet dinh su thanh cong cua fdi theo chieu ngang
  • ,