Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ vào sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá

Kết hợp các hình thức hỗ trợ từ tổ chức WTO, Nhà nước cần tích cực  áp dụng  những tiến bộ KH&CN hỗ trợ thúc đẩy việc nghiên cứu và triển khai ngay từ khâu chọn giống, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, chế biến và dự trữ nguồn nguyên liệu cho SX hàng TCMN mây tre lá sẽ làm tăng chất lượng SP, từ đó tạo điều kiện nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm XK trên TT:

Chú trọng việc đầu tư công nghệ để tăng năng suất và nâng cấp chất lượng của các SP trong đó lấy công nghệ SX sạch là một trong các ưu tiên hàng đầu.

Triển khai thí điểm các mô hình trồng nguyên liệu có chứng nhận bền vững như chứng nhận FSC trên toàn quốc, đặc biệt ở các tỉnh có lợi thế về nguyên liệu như Phú Thọ, Thái Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Nam, Kon Tum v.v… Riêng đối với một số loại   tre sử dụng cho mỹ nghệ như cây lùng ở Thanh Hóa – Nghệ An, trúc sào ở Cao Bằng…,   cần có kế hoạch khai thác và bổ sung hàng năm nhằm đảm bảo nguồn NVL bền vững. Nghiên cứu và mở rộng phạm vi áp dụng quy trình công nghệ chế biến mây tre sạch.  Nghiên cứu quy trình nhân giống các loại tre có giá trị cao trong ngành TCMN như lùng ở Thanh Hóa, Nghệ An, trúc sào ở Cao Bằng.

Nâng cao chất lượng nguyên liệu tại các nghề thủ công như nghiên cứu cải tiến  giống và kỹ thuật trồng, chăm sóc các loại cây quý nhằm tạo ra NVL có  chất lượng tốt.  Đầu tư kỹ thuật SX mới phù hợp với sự đa dạng hóa các mặt hàng TCMN mây tre lá.

Để phát triển ngành công nghiệp chế biến NVL theo tiêu chuẩn hóa, cần đầu tư  chiều sâu vào khoa học kỹ thuật, đầu tư sâu vào công nghệ chế biến để tiêu chuẩn hóa và nâng cao năng suất chế biến NVL, tăng tỷ lệ thu hồi đồng thời định hướng phát triển các vùng NVL có nguồn gốc xuất xứ, các làng nghề với các công nghệ SX sạch đảm bảo thân thiện với MT sống.

Xây dựng bộ tiêu chuẩn chuẩn hóa phân loại các nguồn NVL được đưa vào SX tại các làng nghề cũng như bộ tiêu chuẩn để quản lý chất lượng các SP của làng nghề.

Xây dựng chương trình tập trung nghiên cứu để giải quyết dứt điểm các vấn đề về công nghệ còn vướng mắc trong các làng nghề từ quy trình chuẩn xử lý mối mọt đến kỹ thuật chế biến nguyên liệu, nhuộm màu và hoàn thiện SP.

Khuyến khích đầu tư KH&CN và thiết bị SX đáp ứng được các yêu cầu về bảo vệ MT, coi đó là một trong những nguyên tắc quan trọng để không chỉ củng cố và phát triển phân khúc TT hàng thủ công cao cấp đã lựa chọn, mà còn là một phương tiện hiệu quả để xây dựng thương hiệu của ngành TCMN Việt Nam.

Khuyến khích các bên tham gia ngành nghiên cứu các công nghệ SX  thủ  công truyền thống hiệu quả ở các quốc gia trên thế giới từ đó cân nhắc khả năng vận dụng ở Việt Nam nhằm hiện đại hóa công nghệ SX và trên cơ sở đó đa dạng hóa các SP TCMN mây tre lá của Việt Nam.

Hỗ trợ các Hiệp hội chuyên ngành trong việc cập nhật các thông tin về công nghệ  chế biến, bảo quản để phổ biến rộng rãi cho các hội viên.

Tăng cường mối liên kết giữa các đơn vị nghiên cứu và các DN, trong đó đề xuất sử dụng vốn ngân sách của Nhà nước để cấp trực tiếp cho các đơn vị nghiên cứu này triển   khai các yêu cầu KH&CN của DN xuất khẩu. Cần có sự ràng buộc trách nhiệm cụ thể để đảm bảo chất lượng của công trình nghiên cứu cũng như hiệu quả KT của việc sử dụng kết quả nghiên cứu.

  • Chú trọng các công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh, có khả năng tạo thêm nhiều việc làm trực tiếp và gián tiếp, sử dụng tiết kiệm nguyên liệu. Điều này có một ý nghĩa quan trọng đối với quá trình đổi mới công nghệ của làng nghề. Nó đáp ứng được yêu cầu cơ bản và đặc thù của SX trong làng nghề là kết hợp chặt chẽ giữa tính truyền thống và tính hiện đại. Thế mạnh của công nghệ truyền thống là thể hiện tính độc đáo về kỹ thuật, kỹ xảo, tạo nên phong cách riêng của SP với những nét đặc trưng về nghệ thuật và  văn hoá dân tộc. Còn thế mạnh của KH&CN hiện đại là tạo ra SP hàng loạt, chất lượng tốt và đồng đều, năng suất lao động cao, phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng mà vẫn không mất đi bản sắc văn hoá dân tộc.
  • Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực chế biến NVL thô để thực hiện chuyển giao công nghệ hiệu quả. Đồng thời nhằm tạo ra các nguồn NVL chất lượng cao với giá rẻ cần đẩy mạnh chương trình tín dụng và các hoạt động thực hiện quan hệ đối tác giữa Nhà nước-tư nhân (PPP) với các nhà XK và khách hàng lớn nhanh chóng hiệu quả hơn.
  • Hỗ trợ xây dựng các thương hiệu làng nghề.