Đề xuất định hướng chính sách xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2011-2015 về cách thức thực hiện

1. Các phát hiện từ các chương trình giảm nghèo
1.1  Sự chồng chéo và phối hợp giữa các chương trình giảm nghèo
Theo nghiên cứu Rà soát tổng quan các chương trình dự án giảm nghèo ở Việt Nam của UNDP, trong thời gian qua có 41 dự án và chính sách định hướng vào giảm nghèo trong đó có ba dự án lớn chiếm 40% số hoạt động và ngân sách hỗ trợ là:

Chương trình Phát triển Kinh tế – xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2006-2010 (Chương trình 135-II)
Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010
Nghị quyết 30a về giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện nghèo
Nghiên cứu chỉ ra rằng ba chương trình này có 75 hoạt động can thiệp chính trong các lĩnh vực khác nhau. Kết quả là nội dung và cách tiếp cận của nhiều dự án có những sự chồng chéo đáng kể, vì ba chương trình trên đều có những hợp phần hoặc tiểu phần tương tự nhau về hỗ trợ sản xuất, giáo dục hoặc hỗ trợ tiếp cận với đào tạo nghề… Tuy nhiên, cùng với việc xác định các đối tượng thụ hưởng khác nhau phần nào đảm bảo không để xảy ra chồng chéo trong hoạt động can thiệp của dự án. Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề tồn đọng sau:
Ít có sự điều phối giữa các dự án và các hợp phần: Các Bộ, các sở khác nhau chỉ quan tâm đến các hợp phần dự án của mình mà ít quan tâm phối hợp với các thành phần khác.
Tình trạng phân tán nguồn lực: Những nỗ lực của các dự án đều nhằm bao trùm mọi hoạt động với các nội dung tương tự nhau và với khoản kinh phí hạn hẹp. Điều này làm tăng chi phí quản lý và hạn chế tác động so với việc lồng ghép.
Không phát huy được tổng lực giữa các chương trình: Bởi lẽ một sở vừa và cơ quan thực hiện, vừa là cơ quan theo dõi một dự án. Tác động có thể được tăng cường nếu phối hợp được các hoạt động hỗ trợ, đặc biệt là hỗ trợ khuyến nông, tiếp cận đất canh tác và vay vốn.

1.2 Lồng ghép với ngân sách chính
Ít có sự lồng ghép với kế hoạch và ngân sách chính: các dự án và nguồn vốn dành cho giảm nghèo được coi là hoàn toàn tách biệt với kế hoạch và nguồn ngân sách chính
1.3 Lập kế hoạch ngân sách và theo dõi

 

Nhiều khoản ngân sách và dự án quy mô nhỏ: có quá nhiều hoạt động can thiệp quy mô nhỏ, gây hạn chế đối với các huyện, đặc biệt là về khả năng đáp ứng với các yêu cầu thực tế của người dân địa phương.

Đóng góp từ ngân sách địa phương: Các dự án được thiết kế ở trung ương yêu cầu các địa phương phải đóng góp từ ngân sách tỉnh và điều này làm giảm phần ngân sách được phân cấp cho các tỉnh.

Theo dõi và đánh giá: rất khó khăn để đánh giá các dự án có đạt được đầu ra theo thiết kế hay không và không thể xác định rõ tác động của từng dự án.
Giải ngân so với tác động: Mặc dù giải ngân của các dự án nhìn chung là thấp hơn so với kế hoạch ngân sách nhưng các tỉnh và các bộ vẫn tiếp tục báo cáo là hoàn thành mục tiêu.
Hiệu quả chi tiêu: Hệ quả của việc không theo dõi được tác động thực sự của dự án là khó xác định lĩnh vực nào của dự án giảm nghèo sử dụng ngân sách có hiệu quả và tối ưu nhất
2. Những đề xuất

2.1 Một chương trình giảm nghèo cho Việt Nam
Hướng tới một chương trình giảm nghèo toàn diện giải quyết những nhu cầu của người nghèo tại Việt nam. Và trao quyền tự chủ, phân cấp giải ngân ngân sách cho các tỉnh để việc xác định, thực hiện hoạt động giảm nghèo phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh cũng như nhu cầu thực tế của người nghèo trong tỉnh đó.

Việc gộp các dự án làm một chương trình sẽ làm giảm chi phí thực hiện, chi phí hành chính vì chỉ có một kế hoạch chung, dự toán một ngân sách, thực hiện và báo cáo chung. Điều này giúp giảm sự phân tán và tạo tính linh hoạt cao hơn trong thực hiện.

2.2 Phân cấp nguồn vốn và ra quyết định liên quan đến giảm nghèo cho các tỉnh

Cho phép các tỉnh thiết kế dự án giảm nghèo phù hợp với tỉnh mình, ngược lại, các tỉnh sẽ cam kết về những mục tiêu cần phải hoàn thành và chịu trách nhiệm.Điều này cho phép họ được lựa chọn dự án toàn diện hơn để giúp dân thoát nghèo.

Giúp làm giảm gánh nặng hành chính cho cấp huyện do các huyện được linh hoạt hơn trong việc thiết kế các hoạt động can thiệp của mình và có thể có một dự án chung để thực hiện trong các lĩnh vực khác nhau chứ không phải có nhiều hoạt động can thiệp như hiện nay.
2.3 Hệ thống chuyển giao tiền mặt có điều kiện
Trong nhiều khía cạnh nhu cầu, chính người nghèo là người có thể xác định nhu cầu của mình cũng như việc họ cần làm gì để cải thiện cuộc sống của mình một cách tốt nhất.

Hướng tới một hệ thống chuyển giao tiền mặt trong những chương trình chính sách phù hợp sẽ cho phép người ngehò lựa chọn được những cách giải quyết nghèo của riêng mình.

Điều này sẽ được hỗ trợ và giám sát bằng một loạt các điều kiện như số lượng những lần đi khám bệnh và tỷ lệ đi học.