Đề xuất thiết lập và lựa chọn lãi suất mục tiêu (lãi suất chính sách)

Qua nghiên cứu cho thấy, các NHTW điều hành CSTT theo giá đều phải công bố LSCS để làm chỉ báo  đối  với  thị  trường  và  thể hiện quan điểm CSTT theo một trong  hai cách phổ biến sau: (i) Đặt mục tiêu đối với lãi suất LNH (như trường hợp của FED,  các NHTW New Zealand, Úc); và (ii)  Quy  định  LSCS  là  lãi  suất  gắn  với  một  nghiệp vụ (như ECB). Việc thiết lập và lựa chọn  LSCS  phù  hợp  là  rất  quan  trọng,  vì  vậy, trong thời gian tới, NHNN cần phải xác  định  LSCS  đúng  nghĩa  làm  cơ sở cho  điều  hành CSTT theo mục tiêu giá.

Theo quy định tại Luật NHNN  năm  2010, NHNN  công bố  “lãi suất tái cấp vốn,  lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác để điều hành CSTT, chống cho vay nặng lãi” , theo đó, NHNN đã ban hành  các loại lãi suất  điều hành  gồm: lãi suất  cơ bản, lãi suất  TCV, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất chào  mua GTCG trên OMOs, lãi  suất  cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử LNH, cụ thể: Từ  năm 2000 đến 2010, thực  hiện quy định  tại Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN1 ngày 02/8/2000 về việc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vay của TCTD đối với  khách hàng, NHNN  công bố  lãi  suất  cơ bản trên cơ sở bình quân lãi suất của một số TCTD  lớn,  theo đó các TCTD ấn định lãi suất  kinh doanh (lãi suất huy động vốn,  lãi  suất  cho  vay)  bằng  đồng  Việt  Nam  đối  với  khách hàng theo nguyên tắc lãi suất  kinh  doanh  không vƣợt  quá 150% của lãi suất cơ  bản do NHNN công bố áp dụng trong từng thời kỳ. Đồng thời, lãi suất TCV được điều chỉnh cao hơn lãi suất cơ bản, lãi suất chiết khấu thấp hơn lãi suất cơ bản tạo thành hành  lang  ―trần-sàn‖  lãi  suất  nhằm góp phần điều tiết lãi suất TTLNH. Lãi suất cơ bản và lãi suất NVTTM sẽ dao  dộng  trong  hành  lang  này.  Tuy  nhiên,  lãi  suất  cơ  bản  chỉ nên áp dụng trong điều kiện lãi suất thị  trường biến động mạnh  do  lãi  suất  này  chỉ  phản ánh diễn biến quá khứ chứ không thể hiện được quan điểm định hướng thị trƣờng của NHNN đúng nghĩa. Hơn nữa, việc sử dụng cả lãi suất trần và  sàn đều là lãi  suất  NHNN  cho vay  các TCTD  sẽ khó  tạo được hành  lang  cho lãi suất  thị trường dao động.

Thực tế điều hành cho thấy, thời gian qua, NHNN dần đổi mới  khung  khổ  CSTT  theo hƣớng NHNN ngầm định mục tiêu lãi suất ngắn hạn là lãi suất qua đêm trên TTLNH trên cơ sở phù hợp  với  diễn biến thị  trƣờng và  kỳ  vọng  tỷ giá  (do  đây là kỳ  hạn phổ biến, chiếm  tỷ  trọng  khoảng  70% tổng doanh  số  giao  dịch trên LNH  và  cũng là lãi suất cơ sở đƣợc các NHTM dùng để tính điểm Swap khi tính toán lợi ích nắm giữ giữa VND và ngoại tệ). Theo  đó, NHNN  quyết  định  cung  ứng  tiền ra hay  hút  về  với  liều lƣợng hợp lý, vì vậy hạn chế sự biến động mạnh của lãi  suất  LNH,  đƣa lãi  suất LNH phù hợp với các mức lãi  suất  điều hành  của NHNN  và  các mức lãi suất  khác  trên thị trƣờng. Việc lãi suất LNH duy trì ổn định ở mức thấp (thấp hơn so với lãi suất chào mua qua OMOs và lãi suất huy động, cho vay của TCTD đối với khách hàng) đã đƣa TTLNH trở về đúng vai  trò  là điều tiết  khả  năng  thanh  khoản của hệ  thống TCTD,  qua đó NHNN đảm bảo thực hiện tốt vai  trò  là ngƣời  cho  vay  cuối cùng trên thị trƣờng. Mặt khác, nếu lựa chọn  LSMT là lãi  suất  của một  trong các nghiệp vụ mà NHNN công  bố lãi suất hiện nay (TCV, tái chiết  khấu,  OMOs,  cho  vay  qua  đêm trong  thanh  toán điện tử LNH để bù đắp thiếu hụt vốn  trong  thanh toán bù trừ), thì  với  việc  thực  hiện công bố đồng loạt các mức lãi suất gắn với  các  nghiệp  vụ  nhƣ  trên theo  nguyên  tắc cùng tăng hoặc  cùng giảm nhƣ thời gian qua sẽ dễ  dẫn đến không có lãi  suất  nào  thực  sự dẫn dắt thị trƣờng và thị trƣờng chƣa thực sự tin tƣởng vào các  loại  lãi suất  trên. Hơn nữa, NHNN cũng không thƣờng xuyên điều chỉnh các lãi suất này hoặc có thời kỳ điều chỉnh liên tục, có thời kỳ dài  giữ  nguyên các mức lãi suất này, do  đó chƣa thể tạo tín hiệu định hƣớng rõ ràng cho lãi suất trên thị  trƣờng.  Bên cạnh  đó, qua  phân  tích nêu tại mục 2.3 cho  thấy,  lãi  suất  ngắn  hạn  trên LNH  phản  ứng rất nhanh và  tức  thời với lãi suất chào mua GTCG và lãi suất phát hành tín phiếu NHNN trên OMOs bởi hoạt động qua kênh thị trường mở tương đối  đều đặn và  có  tác  động trực  tiếp đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

vậy, NHNN có thể xem xét lựa chọn LSMT là lãi suất qua đêm (O/N) trên TTLNH  –  lãi  suất  chính  sách;  đồng  thời, NHNN có  thể  cân nhắc  cặp lãi suất ―trần‖ và ―sàn‖  của  hành lành lang dao  dộng đối với  LSMT là lãi suất của các  công cụ CSTT để đảm bảo LSMT luôn biến động trong phạm vi lãi suất điều hành của NHNN.