Điều kiện ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng xuất nhập khẩu

 

1. Chủ thể của hợp đồng

            Chủ thể của hợp đồng xuất nhập khẩu là các thương nhân có trụ sở thương mại ở những nước khác nhau.

Chủ thể bên Việt Nam là thương nhân được phép hoạt động thương mại theo qui định của Điều 6 luật Thương mại Việt Nam 2005. Thương nhân Việt Nam được phép xuất nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc ngành nghề đăng ký kinh doanh trừ hàng hóa thuộc danh mục cấm xuất nhập khẩu, tạm ngừng xuất nhập khẩu theo qui định Điều 3 NĐ số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 qui định chi tiết thi hành luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài.

Hoạt động xuất nhập khẩu chỉ được tiến hành ở các doanh nghiệp đã có đăng ký kinh doanh (theo luật Doanh nghiệp) và đăng ký mã số kinh doanh xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố.

2. Hình thức hợp đồng

Theo qui định tại Điều 24 của luật Thương mại Việt Nam 2005: “hợp đồng xuất nhập khẩu  có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật qui định phải được thành lập thành văn bản thì phải tuân theo các qui định đó”. Điều này qui định giống với Công ước Viên 1980, theo tinh thần nội luật hóa quốc tế.

Văn bản ở đây được hiểu bao gồm: Văn bản hợp đồng hoặc là các tài liệu giao dịch khác. Các tài liệu giao dịch phải có sự xác nhận nội dung trao đổi, thỏa thuận như công văn, đơn chào hàng, đơn đặt hàng, giấy chấp nhận. Theo khoản 15 Điều 3 luật Thương mại qui định: “Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo qui định của pháp luật”. Các bên tham gia hợp đồng có thể ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu theo hai cách:

Trực tiếp: Hợp đồng xuất nhập khẩu được hình thành sau khi các bên trực tiếp gặp gỡ, đàm phán, thỏa thuận với nhau các Điều khoản của hợp đồng. Hợp đồng phát sinh hiệu lực khi các bên cùng thể hiện thống nhất bằng cách cùng ký và đóng dấu vào bản dự thảo hợp đồng.

Gián tiếp: Đây là hình thức ký kết được các bên trao đổi, thống nhất từng vấn đề thông qua thư từ, điện thoại, fax, internet, …, trong đó ghi rõ nội dung công việc cần giao dịch. Một hợp đồng xuất nhập khẩu được ký kết theo phương thức gián tiếp bao gồm hai giai đoạn:

  • Đề nghị lập hợp đồng: Bên đề nghị đưa ra những Điều khoản chủ yếu của hợp đồng, thể hiện trong bản chào hàng hoặc chào mua hàng, đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong một thời gian nhất định, để bên được đề nghị xem xét quyết định lập hợp đồng. Đề nghị lập hợp đồng phải xác định Điều kiện để sự tuyên bố hủy bỏ đề nghị hợp đồng có hiệu lực.
  • Chấp nhận đề nghị ký kết hợp đồng: Nếu chấp nhận dứt khoát vô Điều kiện đề nghị ký kết hợp đồng thì hợp đồng coi như được ký kết. Nếu sửa đổi một số Điều kiện trong đơn đề nghị thì coi như đã từ chối việc ký kết hợp đồng và đưa ra một lời chào hàng mới gửi tới cho đối tác. Hợp đồng chỉ được coi là ký kết khi một trong hai bên chấp nhận vô Điều kiện bản chào hàng mà bên kia gửi tới.

3. Đối tượng hợp đồng

Đối tượng của hợp đồng phải là hàng hóa được phép xuất nhập khẩu theo các văn bản pháp luật hiện hành. Doanh nghiệp không được phép xuất khẩu những mặt hàng cấm xuất nhập khẩu. Nếu đối tượng của hợp đồng là loại hàng hóa Nhà nước hạn chế lưu thông, thì loại hợp đồng này thường bị Nhà nước quản lý chặt chẽ về số lượng và địa chỉ tiêu thụ, việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải tuân theo pháp luật hiện hành. Điều này được qui định trong NĐ số 19/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2006 qui định chi tiết luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa.

4. Nội dung của hợp đồng

Nội dung của hợp đồng bao gồm những Điều khoản mà theo luật Thương mại Việt Nam 2005 qui định phải có: Tên hàng, số lượng, qui cách, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời gian giao nhận hàng.

4.1. Tên hàng

Trong hợp đồng phải đưa vào Điều khoản tên hàng về mô tả hàng hóa, tên hàng kèm theo địa danh sản xuất, tên hàng theo công dụng của nó. Tùy theo mỗi đối tượng của hợp đồng mà các bên chọn cách ghi tên hàng cụ thể khi ký kết hợp đồng.

4.2. Số lượng

Điều khoản về số lượng cần ghi chính xác số lượng hàng hóa có thể qui định về số lượng hàng hóa kèm theo độ dung sai. Do tính phức tạp của hệ thống đo lường được áp dụng trong thương mại quốc tế, các bên ký kết cần phải thỏa thuận và chọn áp dụng những đơn vị tính phổ biến và dễ hiểu để tránh những hiểu lầm đáng tiếc trong các giao dịch của mình.

4.3. Qui cách, chất lượng

Các bên của quan hệ hợp đồng có thể thỏa thuận lựa chọn việc xác định qui cách, chất lượng của hàng hóa theo một trong các cách thức sau:

Mua hàng hóa theo phẩm cấp hoặc tiêu chuẩn. Các phẩm cấp tiêu chuẩn, ví dụ như ISO 9001, TCVN, … là cơ sở để xác định chất lượng hàng hóa.

Mua hàng theo catologue cho đặc thù của loại hàng hóa mà các bên có thể thỏa thuận chọn cách thức mua bán theo catalogue và catalogue này được giữ làm cơ sở để so sánh với chất lượng hàng hóa được giao.

Mua bán hàng hóa theo mẫu: Người bán có nghĩa vụ phải giao hàng cho người mua đúng mẫu. Mẫu hàng sẽ là cơ sở để làm đối chứng với hàng phải bảo quản lưu giữ theo nguyên tắc chọn ba mẫu như nhau, do bên bán, bên mua và bên thứ ba cất giữ. Tất cả các mẫu này đều phải có xác nhận của các bên, được niêm phong và bảo quản theo đúng yêu cầu kỹ thuật đối với mẫu.

4.4. Giá cả

Khi định giá hàng trong hợp đồng mua bán cần nêu rõ: đơn vị tính giá và phương pháp tính giá. Về phương pháp tính giá trong Điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nói chung thì phương pháp định giá như thế nào cho phù hợp với giá cả thị trường để bên mua có thể chấp nhận được. Đề phòng sự mất giá của tiền, cần qui định về Điều khoản đảm bảo giá trị đồng tiền trong thời hạn giao hàng nhất định để thanh toán, Điều khoản bảo lưu về giá cả để phòng tránh rủi ro khi có sự tăng giá kể từ khi hợp đồng đã được xác lập cho đến khi các bên thực hiện hợp đồng.

4.5. Phương thức thanh toán

Tùy theo tính chất đối tượng của hợp đồng và các quan hệ chi trả, hai bên thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng với các hình thức như: thanh toán bằng đổi hàng, ủy nhiệm chi (chuyển tiền), bằng sec, bằng thư tín dụng, … và hai bên phải thỏa thuận ngay từ đầu thanh toán bằng tiền Việt Nam hay ngoại tệ nào. Về thời gian thanh toán có thể căn cứ vào thời gian và phương thức giao hàng. Văn bản luật áp dụng là luật Thương mại Việt Nam 2005,

4.6. Địa điểm và thời gian giao nhận hàng

Thời gian giao nhận hàng là thời gian mà một bên tham gia hợp đồng phải hoàn thành nghĩa vụ giao nhận hàng cho bên kia. Thời gian giao nhận hàng có thể được các bên qui định là giao nhận hàng trong khoảng thời gian nhất định, giao một lần, giao một chuyến, giao thành nhiều chuyến, hoặc thời hạn cuối cùng mà hàng phải giao xong.

Địa điểm giao nhận hàng cần được xác định rõ trong hợp đồng mua bán và địa điểm này thường tùy thuộc vào Điều kiện cơ sở. Nội dung này được qui định trong Điều 35 và 37 luật Thương mại Việt Nam 2005.