Điều kiện được hưởng GSP là gì?

Quy tắc về xuất xứ trong Hệ thống GSP

Quy tắc xuất xứ trong Hệ thống GSP là nội dung quan trọng thiết yếu nhất trong quy chế GSP. Quy tắc xuất xứ GSP là qui định của nước cho hưởng GSP để xác định quốc gia xuất xứ của sản phẩm. Quy tắc xuất xứ GSP được ban hành cùng với chế độ ưu đãi phổ cập GSP của mỗi nước dành ưu đãi trong đó qui định các tiêu chuẩn về xuất xứ phải tuân thủ để được hưởng thuế quan ưu đãi. Mục tiêu của quy tắc xuất xứ là để đảm bảo sản phẩm có xuất xứ từ nước được hưởng ưu đãi về thuế quan trong GSP nhận được ưu đãi đúng đối tượng.

Nội dung cơ bản của xuất xứ bao gồm:

< Các tiêu chuẩn xuất xứ.

< Điều kiện gửi hàng.

< Bằng chứng, chứng từ để chứng minh các điều kiện trên.

Ngoài ra còn các qui định bổ sung cũng phải được tuân thủ theo để được hưởng thuế quan ưu đãi.

Các tiêu chuẩn xuất xứ

Tiêu chuẩn xuất xứ chỉ ra cách xác định nước xuất xứ của sản phẩm. Có 2 tiêu chuẩn xuất xứ được các nước cho hưởng sử dụng đó là: tiêu chuẩn “xuất xứ toàn bộ ” và tiêu chuẩn “xuất xứ có thành phần nhập khẩu ”.

Tiêu chuẩn xuất xứ toàn bộ

Sản phẩm có xuất xứ toàn bộ là các sản phẩm được trồng, khai thác một cách toàn bộ từ đất đai hay thu hoạch tại nước xuất khẩu. Tiêu chuẩn xuất xứ toàn bộ được hiểu một cách chặt chẽ tuyệt đối. Một phần rất nhỏ nguyên liệu, bộ phận hay chi tiết là thành phần nhập khẩu hay không rõ nguồn gốc xuất xứ được sử dụng sẽ làm cho sản phẩm tương ứng thu được mất tính “ có xuất xứ toàn bộ ”.

Ví dụ: Đồ gỗ trạm trổ được làm từ gỗ thu được toàn bộ từ nước được hưởng ưu đãi thuế quan nhưng sản phẩm lại được đánh bóng bằng sáp nhập khẩu thì sẽ không được coi là “ có xuất xứ toàn bộ ” do sử dụng sáp nhập khẩu. Tuy vậy đồ gỗ chạm trổ đó vẫn được hưởng ưu đãi thuế quan GSP dù theo tiêu chuẩn tỷ trọng (hay còn gọi là phần trăm) hay gia công chế biến.

Hầu hết các nước cho hưởng ưu đãi, trong chế độ GSP của nước mình, đã chấp nhận và đưa vào quy tắc danh sách các loại hàng được coi là “ có xuất xứ toàn bộ ” tại các nước được hưởng. Hàng hoá không thuộc danh sách các sản phẩm đó không được coi là “ có xuất xứ toàn bộ ”.

Tất cả các nước cho hưởng chấp nhận các loại hàng hóa sau là “ có xuất xứ toàn bộ ”:

a) Các sản phẩm khoáng sản thu được từ đất hay đáy biển của nước được hưởng hay trong trường hợp Nga và các nước Đông Âu, các sản phẩm khoáng sản thu được trên lãnh thổ của nước được hưởng hay tại thềm lục địa của nước được hưởng

b) Rau quả thu hoạch tại nước được hưởng;

c) Động vật sinh ra và nuôi tại nước được hưởng;

d) Các sản phẩm thu được từ động vật sống tại nước được hưởng;

e) Các sản phẩm thu được qua các hoạt động săn bắt và đánh cá tại các nước được hưởng;

f) Các sản phẩm thu được qua đánh cá ngoài biển và các sản phẩm do tàu của nước được hưởng đánh bắt được từ biển (định nghĩa về “ tàu của nước được hưởng ” và “ tàu chế biến của nước được hưởng ” được nhiều nước quy định áp dụng theo nghĩa hẹp và cũng có thể do tàu mà nước được hưởng thuê để đánh bắt);

g) Các sản phẩm được làm trên tàu chế biến của nước được hưởng, trừ toàn bộ các sản phẩm nêu trong mục (f) ở trên, và tàu chế biến do nước được hưởng thuê;

h) Các hàng hóa đã sử dụng thu thập tại nước được hưởng chỉ để tái tạo ra nguyên vật liệu;

i) Đồ phế liệu thu được từ quá trình sản xuất tại nứơc được hưởng; và

j) Các sản phẩm thu được từ nước được hưởng hoàn toàn từ các sản

phẩm nêu trong mục (a) đến mục (i) như sắt tấm, thỏi, sản xuất từ quặng sắt, vải côtông dệt từ bông, tái chế chì phế thải từ ắc quy ô tô, tái chế sắt từ vỏ bào sắt.

Tiêu chuẩn xuất xứ có thành phần nhập khẩu

Những sản phẩm được làm từ nguyên phụ liệu, bộ phận nhập khẩu bao gồm cả những sản phẩm được chế tạo toàn bộ hay từng phần từ nguyên phụ liệu, thành phần nhập khẩu hay không rõ nguồn gốc được gọi là “ những sản phẩm có thành phần nhập khẩu ” thoả mãn xuất xứ theo GSP nếu chúng đã trải qua quá trình gia công chế biến đầy đủ (theo quy định của các nước cho hưởng) tại nước xuất khẩu được hưởng.

Quá trình gia công chế biến được coi là đầy đủ nếu nó làm thay đổi tính chất đặc trưng hay đặc tính của nguyên phụ liệu sử dụng ở mức độ đáng kể. Hai tiêu chuẩn được sử dụng để xác định sản xuất và chế biến đầy đủ qua đó sản phẩm thay đổi về chất là: tiêu chuẩn về gia công chế biến và tiêu chuẩn phần trăm.

Tiêu chuẩn gia công chế biến

Tiêu chuẩn này được các nước trong khối EU, Nhật, Nauy và Thụy sỹ áp dụng. Theo quy định của tiêu chuẩn này, các nguyên phụ liệu, bộ phận hay thành phần nhập khẩu được coi là đã trải qua quá trình gia công chế biến đầy đủ khi sản phẩm thu được nằm trong hạng mục thuế quan HS bốn số khác với hạng mục thuế quan của các nguyên phụ liệu, bộ phận hay thành phần nhập khẩu ban đầu (được gọi tắt là tiêu chuẩn thay đổi hạng mục thuế quan).

Tuy nhiên, đối với một số sản phẩm sự thay đổi hạng mục thuế quan không phải bao giờ cũng là kết quả của một quá trình gia công chế biến đầy đủ (hay ngược lại trong một số trường hợp, một quá trình gia công chế biến đầy đủ đã diễn ra nhưng lại không diễn ra sự thay đổi hạng mục thuế quan của sản phẩm). Do tính chất đa dạng phức tạp của các quy định gia công chế biến đầy đủ nên các nước cho hưởng đã lập một bảng kê các quá trình gia công chế biến cần thiết đối với các nguyên phụ liệu nhập khẩu để sản phẩm được sản xuất ra đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ. Đối với các sản phẩm nằm trong Bảng kê, yêu cầu cơ bản về thay đổi hạng mục thuế quan phải được thực hiện chỉ khi điều đó được yêu cầu cụ thể trong Bảng. Bảng kê có “ phần giới thiệu ” giải thích một số từ ngữ sử dụng trong đó cũng như những quy định cụ thể chi tiết thêm cho một số sản phẩm, chẳng hạn như trong chương về hàng dệt. Cần lưu ý rằng các quy định trong “ phần giới thiệu ” cũng được áp dụng, một cách tương ứng, cho tất cả các sản phẩm sản xuất ra mà có sử dụng nguyên phụ liệu nhập khẩu ngay cả khi chúng không phải thỏa mãn những điều kiện đặc biệt trong Bảng, nhưng thay vào đó, vẫn phải thỏa mãn quy định về thay đổi hạng mục thuế quan.

Qui định trong cột 3 được hiểu như sau:

– Đối với mặt hàng giày dép có thể được sản xuất từ nguyên phụ liệu nhập khẩu có số hạng mục thuế quan khác nhau, ngoại trừ những bộ phận định hình kim loại dành cho giày dép thuộc hạng mục thuế quan số 6406 (các bộ phận của giày dép, đế trong của giày dép có thể tháo rời, đệm gót giày và các sản phẩm tương tự).

– Còn đối với một số máy móc thiết bị điện tử cho phép được sử dụng các nguyên phụ liệu nhập khẩu có cùng mã số HS với sản phẩm sản xuất cuối cùng nhưng giá trị các thành phần đó không vượt quá 5% giá trị xuất xưởng của sản phẩm.

– Đối với hầu hết các sản phẩm may mặc, quần áo không phải do đan hoặc móc thuộc chương 62, bảng kê yêu cầu phải được sản xuất từ sợi, điều đó có nghĩa là sử dụng vải nhập khẩu không được coi là có xuất xứ từ nước được hưởng.

Đối với một số sản phầm nằm trong Bảng kê, điều kiện phải thỏa mãn quy định rằng trị giá nguyên phụ liệu nhập khẩu không được vượt quá một tỷ lệ phần trăm của trị giá thành phần. Thông thường trị giá hàng xuất khẩu sẽ được tính như sau:

Trị giá hàng xuất = trị giá nguyên phụ liệu nhập khẩu + trị giá thành phẩm (không kể phụ liệu nhập khẩu) + trị giá tính thuế hải quan.

Trong đó:

– Trị giá nguyên phụ liệu nhập khẩu: tính bằng giá tính thuế hải quan tại thời điểm nhập khẩu hoặc giá mua đầu tiên của chúng tại nước đó.

– Trị giá thành phẩm: là giá xuất xưởng của thành phẩm (giá FOB đối với Nhật bản) trừ đi mọi khoản thuế.

Các quy trình công việc đơn giản mà hầu hết các nước cho hưởng không chấp nhận để cho hưởng quy chế về xuất xứ là:

a) Các công việc bảo quản hàng hóa trong quá trình vận chuyển và lưu kho (thông gió, trải ra, sấy khô, làm lạnh, muối, lưu hóa hay xử lý dung dịch, loại bỏ phần hỏng và các công việc tương tự khác);

b) Các công việc đơn giản như lau bụi, sàng lọc, phân loại, so (bao gồm cả việc xếp thành bộ), lau chùi, sơn, chia cắt;

c) Thay đổi bao bì đóng gói và tháo dỡ hay ghép các lô hàng. Cho vào chai, túi, cặp, hộp….và các công việc đóng gói khác;

d) Gắn mác, nhãn hiệu hay ký hiệu để phân biệt hàng hóa sản phẩm hay bao bì đóng gói của chúng;

e) Công việc gá ráp sản phẩm cùng hay khác loại, khi mà một hay nhiều bộ phận của sản phẩm gá ráp không thỏa mãn quy định làm cho chúng có khả năng được coi như là sản phẩm xuất xứ;

f) Việc lắp ráp đơn giản các bộ phận hay sản phẩm để tạo thành một sản phẩm;

g) Sự kết hợp của hai hay nhiều các công việc từ (a) đến (f);

h) Giết thịt động vật (riêng Nhật bản không coi việc giết thịt động vật là công việc đơn giản).

Tiêu chuẩn phần trăm (tỷ trọng)

Tiêu chuẩn này được nhiều nước áp dụng như Mỹ, EU, Canada…Có nước thì quy định một tỷ lệ phần trăm tối đa cho trị giá nguyên phụ liệu, bộ phận, thành phần nhập khẩu (hay không rõ xuất xứ) có thể được sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu, có nước thì quy định một tỷ lệ phần trăm tối thiểu cho trị giá nguyên phụ liệu trong nước và chi phí gia công.. phải sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Tỷ lệ phần trăm được các nước cho hưởng áp dụng rất triệt để. (Bảng tóm tắt các quy tắc về tiêu chuẩn tỷ trọng – xem phụ lục 1)

Tiêu chuẩn xuất xứ cộng gộp

Về nguyên tắc, các chế độ GSP dựa trên khái niệm xuất xứ của từng nước, nghĩa là các qui định về xuất xứ phải được thoả mãn tại một nước xuất khẩu được hưởng đồng thời cũng là nước sản xuất ra thành phẩm liên quan. Tuy nhiên, trong chương trình của một số nước cho hưởng, các qui định này được nới rộng, cho phép một sản phẩm có thể được sản xuất tại một nước được hưởng với nguyên phụ liệu, thành phần và bộ phận nhập khẩu từ các nước được hưởng khác thì các nguyên phụ liệu nhập khẩu này sẽ được coi như có xuất xứ tại nước được hưởng đó. Việc hưởng xuất xứ cộng gộp được áp dụng theo phạm vi và các điều kiện khác nhau. Theo hệ thống cộng gộp, tiến trình gia công hay trị giá gia tăng thêm nằm ngoài một nước được hưởng có thể được cộng thêm vào (hay cộng gộp vào) nhằm xác định xem sản phẩm xuất khẩu có thoả mãn được hưởng GSP hay không.

Ví dụ: quá trình dệt sợi theo hệ thống cộng gộp có thể là:

– Phần đầu của quá trình dệt có thể tiến hành tại một nước A được hưởng.

– Phần sau của quá trình dệt có thể tiến hành tại một nước được hưởng khác và vải sẽ được cộng gộp từ hai quá trình trên để tính mức độ thoả mãn được hưởng GSP. Theo các quy định của EU, sự cộng gộp được quy định trên cơ sở một khu vực địa lý.

Có hai chính sách về cộng gộp: Cộng gộp toàn thể và cộng gộp từng phần.

– Chính sách cộng gộp toàn thể coi tất cả các nước được hưởng như là một khu vực kinh tế, tất cả giá trị gia tăng hoặc quá trình gia công trong khu vực có thể được cộng gộp với nhau để thoả mãn các qui định về xuất xứ đối với sản phẩm xuất khẩu sang một nhóm nước như: úc, Niudilân, Canada, Nga và các nước Đông âu.

– Chính sách cộng gộp từng phần quy định trên một số khu vực địa lý. Chẳng hạn, ba khối kinh tế theo khu vực địa lý của các nước được hưởng, được sử dụng chế độ cộng gộp của EU là: Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN – Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippine, Việt nam…); thị trường trung Trung Mỹ (CACM – Costa Rica, Goatêmala, El Salvador, Honduras, Panama và Nicaragua) và khối Andean (thỏa thuận Cartagena-Bolivia, Colombia, Ecuador, Peru và Venezuela).. Các nước được hưởng trong cùng một khối kinh tế, khu vực muốn được áp dụng các quy định về xuất xứ cộng gộp phải thông báo trước cho nước cho hưởng ưu đãi và những biện pháp sẽ được khối tiến hành để đảm bảo thực hiện các quy định về xuất xứ cộng gộp và chỉ được áp dụng khi thông báo được chấp nhận. Nước xuất khẩu sau cùng có trách nhiệm bảo đảm rằng nguyên phụ liệu cộng gộp thực tế có xuất xứ theo quy định về xuất xứ GSP của nước hàng đến.

Ví dụ: EU quy định bơ ca cao (hạng mục 1804) phải được sản xuất từ hạt ca cao và tiến trình sản xuất phải được tiến hành tại một nước được hưởng. áp dụng về quy định cộng gộp, nước được hưởng A có thể trồng cacao và cung cấp chúng cho nước được hưởng B để chế thành bơ. Bơ chế biến ra sẽ được hưởng GSP của EU nếu hai nước được hưởng A và B này đều là thành viên trong cùng một khối nước nêu trên. Nước xuất xứ của hàng hóa sẽ là nước có phần trị giá hàng hóa cao hơn nước kia.

Quy định cộng gộp này cũng cho phép việc vận chuyển qua các nước thành viên khác của cùng một khối mà không bị vi phạm quy định về vận tải. Như vậy, theo quy định của EU, giấy chứng nhận xuất xứ form A cho sản phẩm hưởng ưu đãi theo quy định cộng gộp được cấp trên cơ sở những giấy chứng nhận xuất xứ form A đã được cấp từ trước tại các nước thành viên cho các nguyên phụ liệu và hoặc các bộ phận xuất xứ.

Tiêu chuẩn xuất xứ nước bảo trợ.

Một số nước như EU, úc, Canada, Nhật bản, Niudilân, Nga và các nước Đông âu áp dụng quy định cho phép sản phẩm (nguyên phụ liệu, các bộ phận) sản xuất tại nước này khi cung cấp cho một nước được hưởng và được sử dụng tại nước đó trong quá trình gia công sản xuất, được coi là có xuất xứ của nước được hưởng để xem sản phẩm cuối cùng có đủ điều kiện hưởng ưu đãi GSP không. Riêng Nhật bản, quy định này không áp dụng đối với một số sản phẩm nên khi xuất hàng sang Nhật bản cần nghiên cưú rõ danh sách những mặt hàng nào được và không được áp dụng.

Ví dụ: Colômbia xuất khẩu dây điện sang Canada, nguyên vật liệu sử dụng gồm thép của Mỹ (20% giá xuất xưởng), cao su của Malaisia (30%) và 50% là trị giá nguyên phụ liệu và lao động của Colômbia. Dây điện sẽ không đủ điều kiện để được hưởng GSP vì thành phần nhập khẩu vượt quá 40%. Tuy nhiên nếu dùng thép nhập của Canada thì sẽ đủ điều kiện để hưởng GSP theo quy định về phần trị giá của nước cho hưởng vì lúc đó thành phần nhập khẩu chỉ còn 30% giá xuất xưởng.

Sản phẩm được sản xuất tại nước được hưởng với nguyên phụ liệu nhập khẩu từ nước cho hưởng sẽ giảm được tỉ lệ % hàng nhập khẩu hoặc được coi là có xuất xứ từ nước được hưởng với điều kiện phải có bằng chứng phụ – như EU yêu cầu – là ngoài giấy chứng nhận xuất xứ form A thông thường người xuất khẩu phải xuất trình giấy chứng nhận nguyên phụ liệu hay thành phần nhập khẩu từ nước cho hưởng liên quan. Giấy chứng nhận này thường do Cơ quan Hải quan của nước cho hưởng có liên quan cấp khi nguyên phụ liệu hay bộ phận được xuất khỏi nước đó.

Điều kiện gửi hàng

Ngoại trừ Úc, các nước cho hưởng khác đều quy định rằng hàng hoá có xuất xứ phải được vận chuyển trực tiếp từ nước xuất khẩu được hưởng ưu đãi đến nước cho hưởng (nơi giao hàng). Mục đích của quy định này là để cho Cơ quan Hải quan của nước cho hưởng tin rằng hàng được nhập khẩu chính là hàng được xuất khẩu từ nước được hưởng, nghĩa là chúng không bị sửa đổi, thay thế hay gia công chế biến thêm hoặc bị đưa ra lưu thông buôn bán tại các nước thứ ba.

Các điều kiện mà các nước EU, úc, Canada, Nhật bản, Niudilân, Nga áp dụng chung như sau:

– Hàng hoá được vận chuyển không qua lãnh thổ của một nước nào khác

– Hàng hoá được vận chuyển qua lãnh thổ của nước khác với nước xuất khẩu được hưởng và có thể được chuyển tải hay lưu kho tại các nước đó, bảo đảm rằng các hàng hoá đó được nằm dưới sự giám sát của Hải quan nước quá cảnh hay lưu kho, không được lưu thông buôn bán hay sử dụng, không được gia công chế biến. Ngoài ra ở một số nước như EU có một số quy định thêm như sau:

Do EU là một Liên minh Hải quan, hàng hóa được vận chuyển thẳng từ một nước được hưởng ưu đãi tới EU được coi là thỏa mãn quy định về vận tải khi chúng tới một trạm hải quan bất kỳ của EU. Về hàng hóa, sau khi vào lãnh thổ một quốc gia thành viên bất kỳ, có thể được lưu hành buôn bán rồi lại được chuyển tới một quốc gia thành viên khác mà không mất quyền được hưởng ưu đãi GSP.

Hàng hoá có thể được vận chuyển qua bất kỳ nước thành viên nào và sau đó lại được tái xuất khẩu một phần hay tất cả tới một nước thành viên khác.

Bảo đảm ràng hàng hóa nằm dưới sự giám sát của Hải quan của nước chuyển tải hay lưu kho và không được mang ra sử dụng trong gia đình hay bị gia công chế biến thêm.

Bằng chứng, chứng từ

Để được hưởng chế độ ưu đãi GSP phải có bằng chứng, chứng từ nhất định về xuất xứ và vận tải. Các nước cho hưởng cũng quy định những chứng từ cần thiết cho những lô hàng có giá trị nhỏ, bao gồm cả hàng gửi theo đường bưu điện.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • gsp là gì
  • các hàng hóa của việt nam được hưởng chế độ gsp
  • gsp gi
  • ,