Điều kiện tự nhiên ở vùng ĐBSCL

Khí hậu: vùng ĐBSCL có một nền nhiệt độ cao và ổn định với nhiệt độ trung bình khoảng 25 – 280C; có chế độ nắng cao với số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 2.226 – 2.709 giờ; có lượng mưa trung bình hàng năm đạt khoảng 1.520 –

1.580 mm, tuy nhiên có sự biến động theo thời gian tạo nên hai mùa tương phản là mùa mưa và mùa khô: mùa mưa từ tháng 5 – 10, chiếm trên 90% lượng mưa cả năm, còn mùa khô từ tháng 11 – 4 năm sau thì lượng mưa nhỏ, không đáng kể.

Tài nguyên đất: theo kết quả điều tra, nghiên cứu của Viện Quy hoạch – Thiết kế nông nghiệp thì vùng ĐBSCL có 4 nhóm đất chính như sau:

Nhóm đất phù sa có DT 1.184.857 ha, chiếm 29% DT đất tự nhiên của vùng, phân bố chủ yếu ở ven và giữa sông Tiền, sông Hậu. Đây là nhóm đất tốt nhất, thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp, có thể canh tác nhiều loại cây trồng như lúa, rau đậu các loại, cây công nghiệp và cây ăn quả.

Nhóm đất phèn có DT 1.600.263 ha, chiếm 39,2% DT đất tự nhiên của vùng, phân bố chủ yếu ở vùng Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên và vùng trũng trung tâm bán đảo Cà Mau. Đất này có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, nhưng đồng thời trong đất cũng có các độc tố, gây ảnh hưởng xấu cho cây trồng.

Nhóm đất mặn có DT 744.547 ha, chiếm 18,2% DT đất tự nhiên của vùng, phân bố dọc theo vành đai ven biển Đông và vịnh Thái Lan do chịu ảnh hưởng của sự xâm nhập nước mặn từ biển qua hệ sống sông, rạch. Cũng như đất phèn, độ màu mỡ tự nhiên của đất khá, nhưng hạn chế chủ yếu là hàm lượng muối trong đất cao.

Nhóm đất xám có DT 134.656 ha, chiếm 3,3% DT đất tự nhiên của vùng,  phân bố dọc theo biên giới với Campuchia ở các tỉnh Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp và Long An. Đất này có độ màu mỡ tự nhiên thấp, kết cấu nhẹ và tơi xốp.

Như vậy, 4 nhóm đất chính trên có DT 3.664.323 ha, chiếm 89,7% DT đất tự nhiên của vùng. Để thau chua, rửa mặn trên nhóm đất phèn và nhóm đất mặn cần phải đầu tư thích hợp vào hệ thống thủy lợi và thủy lợi hóa sản xuất.

Địa hình: vùng ĐBSCL có địa hình khá bằng phẳng, cao độ trung bình xấp xỉ khoảng 0,8 m trên mực nước biển trung bình. Tuy nhiên, một số khác biệt cục bộ về mặt địa hình cũng gây ảnh hưởng đáng kể đến các điều kiện tiêu thoát nước vào mùa mưa lũ và xâm nhập mặn của nước biển vào mùa khô.

Hệ thống sông rạch:

Sông Mê Kông bắt nguồn từ Tây Tạng (Trung Quốc) chảy qua Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia, rồi đổ ra biển Đông ở nước ta. Sông Mê Kông trên địa phận nước ta được gọi là sông Cửu Long. Hệ thống sông Cửu Long gồm có sông Tiền và sông Hậu. Bên cạnh đó, vùng ĐBSCL còn có hệ thống sông Vàm Cỏ, sông Sở Thượng và Sở Hạ, sông Giang Thành, sông Châu Đốc, sông Cái Lớn và Cái Bé.

Hệ thống kênh đào: vùng ĐBSCL có hệ thống kênh đào dày đặc, mục đích là phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và giao thông đường thủy. Hệ thống kênh đào hiện đã nối thông sông Vàm Cỏ với sông Tiền, sông Tiền với sông Hậu, sông Hậu với vịnh Thái Lan, nối thông các vùng nằm sâu trong nội đồng ra sông chính.

Hiện nay, vùng ĐBSCL có mật độ sông và kênh rạch lên tới 0,68 km/km2.

Tài nguyên nước gồm có nước mặt và nước ngầm:

Nước mặt: vùng ĐBSCL lấy nước ngọt từ sông Mê Kông và từ nước mưa. Lượng nước trung bình hàng năm từ sông Mê Kông chảy về vùng ĐBSCL khoảng 460 tỷ m3 và mang theo khoảng 150 – 200 triệu tấn phù sa. Còn lượng nước mưa trung bình hàng năm đạt khoảng 1.520 – 1.580 mm. Tuy nhiên, cả hai nguồn nước này đều thay đổi theo mùa một cách rõ rệt:

Mưa và dòng chảy lớn chủ yếu tập trung vào mùa mưa gây ra hiện tượng ngập lũ hàng năm, khi đó có khoảng 1,2 – 1,9 triệu ha đất bị ngập lũ từ 3 – 5 tháng. Thông thường, đầu lũ vào tháng 7, đỉnh lũ vào tháng 10 và lũ rút từ tháng 11 trở đi.

Còn vào mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau thì lượng mưa nhỏ, không đáng kể và lượng nước ngọt từ sông Mê Kông chảy vế vùng ĐBSCL rất ít gây ra hiện tượng xâm nhập mặn. Trong những năm gần đây, do hiện tượng biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cùng với việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ sông Mê Kông làm cho hiện tượng ngập lũ và xâm nhập mặn diễn biến phức tạp, khó lường.

Nước ngầm ở vùng ĐBSCL được đánh giá là có trữ lượng lớn, bao gồm nước ngầm tầng nông và nước ngầm tầng sâu. Nước ngầm tầng nông có chất lượng nước xấu và bị ô nhiễm cao. Nước ngầm tầng sâu có trữ lượng khá phong phú và chất lượng tốt. Tổng sản lượng khai thác tiềm năng ở vùng ĐBSCL là trên 84 triệu m3/ngày đêm, tuy nhiên với hiểu biết hiện nay về địa chất thủy văn thì sản lượng khai thác an toàn được đánh giá ở mức 1 triệu m3/ngày đêm, chủ yếu dựa vào nước ngầm tầng nông ở bên trên.

Tài nguyên rừng: DT đất lâm nghiệp ở vùng ĐBSCL tính đến ngày 31/12/2017 là 253.530 ha, chiếm 6,2% DT đất của vùng. Bao gồm rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng:

DT đất rừng sản xuất là 99.257 ha, bao gồm: rừng tràm trên vùng đất phèn; rừng đước, bần, vẹt ở cửa sông và ven biển; rừng bạch đàn và keo lai làm nguyên liệu giấy ở Long An và Kiên Giang.

DT đất rừng phòng hộ là 81.778 ha, bao gồm: rừng phòng hộ ven biển từ Tiền Giang đến Kiên Giang; rừng phòng hộ ven biên giới với Campuchia ở các tỉnh Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp và Long An; rừng phòng hộ nội địa và rừng phòng hộ vùng hải đảo.

DT đất rừng đặc dụng là 72.495 ha. Các khu rừng đặc dụng quan trọng ở vùng ĐBSCL bao gồm: khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú ở Bến Tre, vườn quốc gia U Minh Thượng và vườn quốc gia Phú Quốc ở Kiên Giang, vườn quốc gia Mũi Cà Mau ở Cà Mau…

Tài nguyên biển: vùng ĐBSCL có bờ biển dài 780 km, chiếm 23,9% chiều dài bờ biển của cả nước; DT biển là 360.000 km2, chiếm khoảng 30% DT biển của cả nước; có nhiều đảo và quần đảo như đảo Phú Quốc, quần đảo Nam Du, quần đảo Thổ Chu…; biển ấm, nguồn lợi thủy sản dồi dào, thuận lợi cho việc khai thác thủy sản nói riêng và phát triển kinh tế biển nói chung.

Tài nguyên khoáng sản: vùng ĐBSCL có một số loại tài nguyên khoáng sản như đá andezit, granit ở An Giang với trữ lượng khoảng 450 triệu tấn; đá vôi ở Kiên Giang với trữ lượng khoảng 440 triệu tấn; dầu khí phân bố trong thềm lục địa tiếp giáp giữa biển Đông và vịnh Thái Lan; than bùn ở tiểu vùng Tứ Giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau với trữ lượng khoảng 370 triệu tấn; đất sét với trữ lượng khoảng 30 – 40 triệu m3

Tài nguyên du lịch: vùng ĐBSCL có các sản phẩm du lịch đặc thù như: “du lịch tham quan sông nước, miệt vườn kết hợp với nghỉ tại nhà dân; du lịch sinh thái, tham quan nghiên cứu các hệ sinh thái đa dạng của vùng; du lịch văn hóa, tìm hiểu văn hóa của các dân tộc trong vùng; du lịch nghỉ dưỡng biển đảo cao cấp ở Phú Quốc và Hà Tiên” (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2010, trang 2).