Điều ước quốc tế là gì?

Điều ước quốc tế là gì?
4.5 (90%) 4 vote[s]

Theo công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế thì : Điều ước quốc tế là thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể của luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thỏa thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó. Như vậy, điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế, do các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thoả thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thông qua các quy phạm gọi là quy phạm điều ước. Điều ước quốc tế có thể là phổ cập hoặc không phổ cập, toàn cầu hoặc khu vực, đa phương hoặc song phương.

Điều ước quốc tế được hình thành bởi hai hay nhiều chủ thể của luật quốc tế, luật áp dụng trong quá trình đàm phán ký kết điều ước quốc tế là luật quốc tế ( như công ước Viên 1969, công ước Viên 1986 về luật ký kết điều ước quốc tế giữa quốc gia với tổ chức quốc tế, giữa tổ chức quốc tế với nhau ). Ngoài ra, cũng có thể dùng tập quán quốc tế điều chỉnh. Một thoả thuận quốc tế giữa hai chủ thể luật quốc tế nếu được điều chỉnh bằng luật quốc gia sẽ không có giá trị pháp lý là điều ước quốc tế. Trình tự ký kết một điều ước quốc tế qua các gia đoạn sau :

  • Giai đoạn hình thành văn bản dự thảo điều ước gồm có đàm phán, soạn thảo và thông qua văn bản. Việc thông qua văn bản tuỳ theo mức độ quan trọng mà áp dụng một trong các nguyên tắc : nguyên tắc đa số, nguyên tắc nhất trí, hoặc nguyên tắc đồng thuận. Sau khi thông qua, điều ước quốc tế chưa có hiệu lực ngay mà bước này chỉ có ý nghĩa xác thực nội dung kết quả của quá trình đàm phán, từ lúc này, văn bản không bị sửa đổi.

Giai đoạn các quốc gia thực hiện các hành vi ràng buộc của quốc gia với điều ước quốc tế, từ giai đoạn này điều ước quốc tế mới phát sinh hiệu lực. Việc thực hiện hành vi ràng buộc có thể là ký kết điều ước quốc tế ; phê chuẩn hoặc duyệt điều ước quốc tế ; hành vi gia nhập điều ước quốc tế.

Điều ước quốc tế được coi là nguồn cơ bản của luật quốc tế vì tuyệt đại bộ phận quy phạm của luật quốc tế đều nằm trong điều ước quốc tế và do các quốc gia xây dựng nên. Nếu như từ đầu những năm 70 về trước hầu như chỉ có điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia thì ngày nay xuất hiện ngày càng nhiều điều ước quốc tế giữa các tổ chức quốc tế liên chính phủ với nhau, cũng như các quốc gia với tổ chức liên chính phủ.

Điều ước quốc tế là nguồn cơ bản của luật quốc tế, nhưng về mặt lý luận không phải mọi điều ước quốc tế đã có hiệu lực đều được coi là nguồn của nó. Một điều ước quốc tế được coi là nguồn của luật quốc tế nều nó không đáp ứng được các yêu cầu sau đây :

–         Một là, điều ước quốc tế phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng giữa các chủ thể. Điều ước quốc tế được ký trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng thì các chủ thể của nó mới thể hiện được ý chí của mình và khi ấy họ mới tự nguyện thực hiện những cam kết đã thoả thuận. Với ý nghĩa đó, chỉ khi ấy các điều ước quốc tế này mới phát sinh hiệu lực thực tế và mới được coi là nguồn của luật quốc tế.

–         Hai là, điều ước quốc tế được ký kết phải có nội dung phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Ví dụ : Các điều ước quốc tế có những quy định trái với hiến chương Liên hợp quốc, trái với nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác được coi là trái pháp luật quốc tế và không thể nhìn nhận là nguồn của luật quốc tế.

Ta thấy rằng trên cơ sở cũng như hệ thống pháp luật quốc gia, hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản, trong đó bao gồm các quy phạm có tính nguyên tắc và các quy phạm về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quyền và nghĩa vụ của công dân …được coi là cơ sở, nền tảng cho tất cả các đạo luật và văn bản pháp quy khác, của tất cả ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc gia thì trong hệ thống pháp luật quốc tế các nguyên tắc, các quy phạm điều ước quốc tế phổ cập được coi là cơ sở nền tảng cho toàn bộ hệ thống và như vậy, các điều ước quốc tế đa phương hoặc song phương khác có nội dung trái với nguyên tắc và quy phạm phổ cập của luật quốc tế hiện đại thì hiển nhiên không có giá trị pháp lý và không thể là nguồn của luật quốc tế.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • điều ước quốc tế là gì
  • các ví dụ về điều ước quốc tế
  • ký kết điều ước quốc tế để làm gì
  • phân tích khái niệm điều ước quốc tế
  • điều ước quốc tế khu vực và điều ước quốc tế toàn cầu
  • ,