Định hướng phát triển thị trường tài chính nông thôn trong thời kỳ hội nhập là gì?

Do khu vực nông nghiệp, nông thôn và thị trường tài chính nông thôn Việt Nam có những đặc điểm đặc thù, nên Đảng và Chính phủ đã xác định phát triển thị trường tài chính nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hội nhập là phát triển nhanh nhưng phải đảm bảo ổn định và bền vững. Đây cũng là quan điểm xuyên suốt cho quá trình phát triển của thị trường tài chính nông thôn; quy mô và cấu trúc của thị trường tài chính nông thôn phải gắn liền với đặc điểm kinh tế, xã hội của nông thôn Việt Nam, đồng thời phải gắn liền với kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Chính phủ. Ngoài ra, để đảm bảo hài hòa sự phát triển của thị trường tài chính nông thôn phải gắn liền với sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam.

Trên cơ sở những quan điểm này, cần thiết lập một cơ chế vận hành thị trường tài chính nông thôn Việt Nam hiệu quả, thông suốt và phát huy tốt nhất các tiềm năng sẵn có trên thị trường tài chính nông thôn. Theo đó, cần điều chỉnh cấu trúc của thị trường tài chính nông thôn cho phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hội nhập khu vực và quốc tế, góp phần duy trì thị trường tài chính phát triển ổn định, phân bổ nguồn vốn hiệu quả với chi phí thấp nhất, phản ánh được một tầm nhìn và lợi ích xã hội mà lĩnh vực tài chính nông thôn đảm nhận.

Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển lành mạnh thị trường tài chính nông thôn Việt Nam giai đoạn 2010-2015

Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nhiệp, nông thôn, nông dân nhấn mạnh chủ trương: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nhiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân”, chính vì vậy, hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược quan trọng, được Đảng và Chính phủ ưu tiên đặc biệt. Cụ thể là:

1. Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/08/2008 về nông nhiệp, nông dân, nông thôn đã thể hiện quyết tâm đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn. Theo đường lối của Đảng và thực hiện Nghị quyết này, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để phát triển nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, có chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ. Nghị định này tạo ra cú hích đối với các tổ chức tín dụng tại thị trường nông thôn, góp phần khơi thông nguồn vốn chảy về nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển tam nông trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH, tạo một sức bật mới cho khu vực kinh tế nông nhiệp, nông thôn.

Ngoài ra, NHNN cũng đã có những chính sách cụ thể và có nhiều văn bản hướng dẫn để khuyến khích các tổ chức tín dụng tham gia cho vay khu vực nông nghiệp, nông thôn.

2. Sau hơn 23 năm đổi mới và phát triển, lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cũng đã đạt được tốc độ phát triển khá cao. Theo số liệu thống kê, liên tục trong 10 năm mức tăng trưởng sản xuất nông nhiệp được duy trì ở mức 4,8%/năm, những năm gần đây ổn định ở mức 3,5%/năm. Hàng năm xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn gạo. Giá trị sản lượng công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 14%/năm. Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt thành tựu lớn, giá trị hàng nông, lâm, thủy sản xuất khẩu qua các năm so với tổng kim ngạch xuất khẩu luôn tăng trưởng. Đối với nông thôn, cơ cấu kinh tế thay đổi, có sự chuyển dịch tích cực, hoạt động dịch vụ phát triển, hình thành nhiều mô hình kinh tế mới (khu công nghiệp, trang trại, doanh nghiệp nhỏ và vừa,…) hoạt động có hiệu quả, thu hút nhiều lao động nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm cho nền kinh tế. Ngoài ra, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội không ngừng được cải thiện, công tác xóa đói giảm nghèo đạt được nhiều thành tựu, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh qua các năm đến nay chỉ còn khoảng 15%.

Những kết quả khả quan này đã tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi cho thị trường tài chính nông thôn từng bước phát triển, thu hút sự quan tâm và đầu tư của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.

3. Bài học kinh nghiệm về phát triển thị trường tài chính nông thôn Việt Nam thời gian qua và những kinh nghiệm trong phát triển thị trường tài chính nông thôn của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á có nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn tương đồng Việt Nam như Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc,…sẽ giúp cho thị trường tài chính Việt Nam những cơ hội trong việc lựa chọn xây dựng mô hình phù hợp nhất để phát triển.

Bên cạnh những cơ hội, để phát triển thị trường tài chính nông thôn lành mạnh và hiệu quả trong giai đoạn tới (2010-2015) cũng gặp không ít khó khăn và thách thức. Cụ thể:

1.      Công tác quy hoạch tổng thể và quản lý quy hoạch của khu vực nông nghiệp đã có, nhưng việc triển khai công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch ở các địa phương (cấp huyện, xã, thôn,…) có hiệu quả còn chưa cao, chưa có những chiến lược và giải pháp nhằm quy hoạch ổn định, lâu dài đối với từng cây, con. Sản xuất của khu vực này còn nặng về phong trào mang tính tự phát. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến tín dụng của khu vực nông thôn còn hạn chế. Bên cạnh đó, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp thấp, hàng hóa xuất khẩu còn ở dạng thô hoặc mới qua sơ chế, công tác quản bá, tiếp thị sản phẩm chưa tốt dẫn đến giá thành sản phẩm chưa cao. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm và công tác phòng trừ dịch bệnh chưa được coi trọng.

Mặt khác, tình trạng ô nhiễm môi trường, sự phát triển thiếu đồng bộ về cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội ở khu vực nông thôn cũng là những hạn chế cho sự phát triển thị trường tài chính nông thôn hiện nay.

2. Khuôn khổ pháp lý cho việc vận hành hệ thống tài chính khu vực nông thôn chưa thực sự đầy đủ và đồng bộ. Hạn chế này cũng là một trong những lý do chính để khu vực thị trường tài chính phi chính thức ở nông thôn phát triển, nhất là ở những nơi trình độ dân trí, văn hóa còn thấp, người dân chưa được tiếp xúc nhiều với các phương tiện thông tin đại chúng, đã làm giảm đáng kể hiệu quả của việc phát triển kinh tế ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.

3.      Cạnh tranh giữa các ngân hàng, tổ chức tín dụng ngày càng quyết liệt dẫn đến thách thức phải giảm thiểu những khúc mắc của thị trường tài chính để tăng khả năng cạnh tranh tích cực. Trong đó, thách thức của việc giảm thiểu sự quản lý nội bộ của các định chế tài chính, giảm thiểu các rào cản giúp người dân tiếp cận thuận lợi với hệ thống tài chính, các tổ chức tài chính chính thức và bán chính thức nhằm hạn chế hoạt động của các tổ chức tài chính phi chính thức. Thách thức mang tính chiến lược là phải giảm được các chi phí để có thể cho người nông dân vay với mức lãi suất phù hợp, đồng thời thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng ở khu vực nông thôn. Muốn làm được điều này đòi hỏi phải có chính sách phù hợp, có sự vận dụng công nghệ giúp giảm chi phí quản lý, tăng khả năng quản lý rủi ro, cải tiến quy trình chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao kỹ năng của nhân viên phục vụ ở khu vực này.

4.      Thực tế, chi phí đầu tư vốn vào khu vực nông thôn cao hơn nhiều so với khu vực thành thị, các rủi ro về thiên tai, dịch bệnh, các rủi ro bất khả kháng luôn rình rập khu vực kinh tế này. Bên cạnh đó, dân trí ở khu vực nông thôn chưa cao, nên việc tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàng khó hơn. Do vậy, để giúp người dân tại khu vực nông thôn tiếp cận nhanh nhất và trực tiếp các khoản vay để phát triển sản xuất, dịch vụ nâng cao đời sống của mình là một thách thức không nhỏ đối với khu vực tài chính nông thôn.