Đo lường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Có rất nhiều nghiên cứu thảo luận cách thức đo lường CSR. Theo các quan điểm marketing gắn với việc nghiên cứu khách hàng có hai trường phái.

Một là, CSR được coi như là một khái niệm bậc nhất (Lichtenstein và cộng sự, 2004; Marin và Ruiz, 2007; Maden và cộng sự, 2012). Khởi đầu cho  trường  phái này là Brown và  Dacin  (1997) định nghĩa CSR là tình trạng và hoạt động của tổ chức liên quan đến nhận thức nghĩa  vụ xã hội của tổ chức đó. Ông phân biệt  trách nhiệm kinh tế và phi kinh tế và CSR được xem như thang đo một thành phần. Cách tiếp cận này không phân biệt bất kỳ thành phần nào của CSR vì nó coi CSR như một nhận thức tổng thể trong tâm trí của khách hàng. Nó cho thấy khái niệm CSR quá chung chung, do đó mất đi sự phong phú của khái niệm và tính chính xác của nội dung.

Hai là, xem xét CSR là khái niệm bậc hai và chưa có sự đồng thuận cao về các thành phần này (Carroll, 1979; Maignan, 2001; Kim và Choi, 2007; Carroll và Shabana, 2010; Du và cộng sự, 2011;  Alvarado-Herrera  và  cộng sự, 2017; Fatma và cộng sự, 2016). Trường phái này, thường có ba cách tiếp  cận: mô hình kim tự tháp của Carroll (1979; 1991); các bên liên quan, mô hình phát triển bền vững. Cụ thể:

Mô hình kim tự tháp (Carroll 1979, 1991) với các thành phần: trách nhiệm kinh tế, pháp lý, xã hội, từ thiện để cấu thành nên khái niệm Trách nhiệm kinh tế là trách nhiệm kinh doanh sản xuất các hàng háo mà khách hàng cần và doanh nghiệp bán chúng để kiếm lợi nhuận. Trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm các doanh nghiệp tuân theo các quy định của pháp luật trong khi thực hiện các hoạt động của họ. Trách nhiệm đạo đức liên quan đến hành động không nhất thiết phải được pháp luật quy định mà do cộng đồng yêu cầu về sự công bằng và trung thực. Trách nhiệm từ thiện bao gồm các hoạt động bảo vệ lợi ích công cộng (Caroll, 1991). Có khá nhiều nghiên cứu đã ứng dụng mô hình này (Maignan, 2001; Carroll và Shabana, 2010; Park và cộng sự, 2014). Tuy nhiên, CSR dựa trên Kim tự tháp Carroll không phù hợp với nhận thức của khách hàng vì họ không phân biệt được bốn yếu tố đề xuất bởi mô hình (Crespo, 2005; Alvarado và Shlesinger, 2008; Alvarado-Herrera và cộng sự, 2017).

Cách tiếp cận của các bên liên quan có tầm quan trọng trong việc giải thích các hoạt động CSR (Jamali, 2008). Các doanh nghiệp cố gắng thỏa mãn các bên liên quan nội bộ doanh nghiệp và bên ngoài doanh nghiệp thông qua các thực tiễn CSR (Paek và cộng sự, 2013). Các bên liên quan nội bộ là các nhà quản lý, nhân viên và các đối tác kinh Các bên liên quan bên ngoài là cơ quan nhà nước, người tiêu dùng, xã hội và môi trường và các tổ chức xã hội dân sự.

Xây dựng các chiến lược CSR dựa trên lý thuyết phát triển bền vững giúp CSR có tính hữu hình và dễ dàng đánh giá cho khách hàng hơn (Oß berseder và cộng sự, 2014) khách hàng phân biệt các cấu trúc của khái niệm CSR (Martínez và cộng sự, 2013; Martínez và cộng sự, 2014; Oß berseder và cộng sự, 2014; Alvarado-Herrera và cộng sự, 2017) khắc phục được lý thuyết CSR của Carroll (1991) và Brown và Dacin (1997). Theo đó, CSR là một cấu trúc bậc hai với thành phần cấu thành là: phát triển kinh tế, xã hội, môi trường (Tosun, 2001; Van Marrewijk, 2003). CSR có thể được dùng như một  chính  sách  để đảm bảo phát triển bền vững lâu dài. Mặc dù ban đầu phạm vi tính bền vững bao phủ các vấn đề môi trường, nhưng sau đó  nó đã được  mở rộng với các vấn đề xã hội và  vấn đề  kinh tế (Panapanaan và cộng sự, 2003; Coles và cộng sự, 2013).