Doanh nghiệp thiết kế chiến lược theo chuỗi giá trị (value chain)

Cho dù doanh nghiệp theo đuổi chiến lược kinh doanh chi phí thấp hay khác biệt hóa thì khả năng tạo lập giá trị của chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị gồm cả giá trị sản xuất doanh nghiệp đưa vào và giá trị sử dụng mà khách hàng đánh giá và cảm nhận về sản phẩm. Đối với cả hai chiến lược nói trên, doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao hơn đối thủ cạnh tranh của mình khi doanh nghiệp tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng của mình và thu về mức giá xứng đáng với giá trị đó. Để hiểu mối quan hệ này và làm thế nào để duy trì mối quan hệ đó thì chính là việc doanh nghiệp đã thực hiện chiến lược kinh doanh.

Doanh nghiệp nào cho dù thực hiện chiến lược nào cũng phải đi đến thực tế là làm sao đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Các câu hỏi không ngừng xuất hiện như doanh nghiệp sẽ tiến hành thiết kế ở đâu, sản xuất ở đâu, phương thức tốt nhất để cung cấp sản phẩm tới khách hàng ở các nước khác nhau là gì, công cụ marketing nào sẽ là hiệu quả nhất, nhân sự như thế nào sẽ là phù hợp nhất với hệ thống phân phối sản phẩm của doanh nghiệp, trụ sở chính của doanh nghiệp sẽ có vai trò như thế nào trong quá trình ra quyết định của  doanh nghiệp… Câu trả lời cho mỗi câu hỏi trên thông thường đều liên quan đến việc tạo lập giá trị của doanh nghiệp trong việc làm thế nào doanh nghiệp sẽ thiết kế, sản xuất, vận chuyển và bán sản phẩm của mình; làm thế nào doanh nghiệp sẽ thực hiện những công đoạn này hiệu quả và doanh nghiệp sẽ phối hợp các quyết định khác nhau ở những bộ phận khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp như thế nào.

Vậy khi coi một doanh nghiệp là một chuỗi giá trị có thể giúp doanh nghiệp giải quyết được những vấn đề thách thức trên. Chuỗi giá trị (value chain) là một khung cho phép doanh nghiệp chuyển tải các ý tưởng về việc tạo lập giá trị vào một loạt các hoạt động khác nhau mà doanh nghiệp sẽ thực hiện để tạo ra các giá trị của sản phẩm. Vì vậy, qua việc xác định chuỗi giá trị của doanh nghiệp, lãnh đạo doanh nghiệp có thể tập trung tri thức và đầu tư cho những hoạt động tạo lập giá trị và hạn chế những hoạt động không tạo ra giá trị sản phẩm.

Từ ý tưởng chung là việc tạo ra giá trị tới có được lợi nhuận từ doanh thu bán hàng, doanh nghiệp sẽ quyết định triển khai các chức năng và quy trình kinh doanh thông qua các khâu thiết kế, tìm kiếm nguyên vật liệu và bán thành phẩm, marketing, phân phối và hỗ trợ tới khách hàng cuối cùng (xem Hình 4.3)

Các hoạt động chủ yếu:

Thu mua đầu vào: Nhập kho, lưu kho, kiểm soát hàng tồn kho các nguyên liệu đầu vào cho sản xuất từ các nhà cung cấp.

Sản xuất, vận hành: Quá trình chuyển đổi từ nguyên liệu đầu vào thành thành phẩm.

Phân phối sản phẩm đầu ra: Vận chuyển thành phẩm từ nhà máy vào chuỗi cung ứng của các nhà bán buôn, bán lẻ hoặc người tiêu dùng cuối cùng.

n hàng và Marketing: Marketing mix và quảng cáo để khách hàng mua sản phẩm.

Dịch vụ: Hỗ trợ khách hàng lắp đặt, dịch vụ sau bán hàng, xử lý khiếu nại khách hàng, đào tạo, vv…

Các hoạt động hỗ trợ:

Mua sắm, đấu thầu: mua sắm nguyên vật liệu, linh kiện, các đầu vào khác cho toàn bộ quá trình tạo lập giá trị Phát triển công nghệ và hệ thống: Nghiên cứu và phát triển, tự động hóa các quy trình, hệ thống viễn thông và không dây, các công nghệ khác để hỗ trợ các hoạt động tạo lập giá trị.

Quản trị nhân lực: tuyển dụng, phát triển, chế độ chính sách, duy trì nhân lực và các mối quan hệ lao động.

Cơ sở hạ tầng doanh nghiệp: các hoạt động liên quan tới quản trị, kế toán và tài chính, pháp chế, an toàn lao động, hệ thống thông tin quản trị, và các chức năng “cố định„ khác.

Nguồn:    Daniels,    Radebaugh,    Sullivan    (2009),    International    Business: Environment and Operations, 12th Edition, Pearson International Edition, trang 458.

Mỗi hoạt động chủ yếu hay hỗ trợ của doanh nghiệp đều là nguồn tạo ra điểm yếu hoặc điểm mạnh của doanh nghiệp. Những điểm mạnh của doanh nghiệp mang tính bền vững lâu dài chính là năng lực cốt lõi của doanh nghiệp. Thuật ngữ năng lực cốt lõi (core competency) dùng để chỉ năng lực, khả năng và kỹ năng quan trọng, cốt yếu trong nội bộ một doanh nghiệp mà các đối thủ cạnh tranh không thể dễ dàng có được hay bắt chước được.  Những năng lực này có thể tồn tại trong bất kỳ một công đoạn tạo lập giá trị nào của doanh nghiệp, có thể trong khâu thiết kế, nghiên cứu và phát triển, sản xuất, marketing, nguồn nhân lực, vận chuyển logistics, quản trị… Những năng lực này có thể được thể hiện rõ nét và tiêu biểu trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp mà các đối thủ cạnh tranh khác rất khó theo kịp hoặc khó làm theo. Năng lực cốt lõi của doanh nghiệp là nền tảng để doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh của mình. Năng lực cốt lõi cho phép một doanh nghiệp cắt giảm được chi phí khi tạo lập giá trị hoặc tạo ra những giá trị khác biệt mà khách hàng có thể sẵn sàng chi trả với mức giá cao. Ví dụ, hãng Toyota có năng lực cốt lõi trong việc sản xuất ô tô. Hãng có thể sản xuất ra những chiếc ô tô có thiết kế tuyệt hảo, chất lượng cao với mức chi phí thấp hơn bất kỳ một hãng nào trên thế giới. Những năng lực này đã cho phép hãng Toyota làm được điều này chủ yếu tồn tại trong khâu sản xuất và phân phối, vận chuyển. Hãng McDonald‟s có năng lực cốt lõi trong việc quản trị việc vận hành hệ thống cung cấp đồ ăn nhanh, hãng Proter & Gamble có năng lực cốt lõi trong việc phát triển và marketing các sản phẩm tiêu dùng, hóa mĩ phẩm dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau; hãng  Starbuck có năng lực cốt lõi trong việc quản trị các hệ thống bán lẻ số lượng lớn đồ uống pha chế tươi từ cà phê.