Đối tượng của cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở nước ta

Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước là biện pháp cải cách Doanh nghiệp nhà nước tối ưu của nước ta. Tuy nhiên, không phải tất cả các doanh nghiệp đều có thể đổi mới bằng phương thức này. Có những doanh nghiệp mà Nhà nước cần duy trì 100% vốn Nhà nước. Đó là khu vực kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế trên các lĩnh vực sau:

– Các doanh nghiệp hoạt động nhằm phục vụ cho công tác an ninh và quốc phòng : sản xuất vũ khí, đạn dược, sản xuất thuốc nổ, sản xuất phương tiện phát sóng, truyền tin…
– Các doanh nghiệp đóng vai trò then chốt của nền kinh tế quốc dân, bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực : năng lượng, dầu khí, khai thác vàng và đá quý, xây dựng sân bay, bến cảng, đường sắt…
– Các doanh nghiệp thuộc hạ tầng cơ sở như : giao thông, bưu chính, viễn thông, điện, thuỷ nông…
– Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thường bị thua lỗ, lãi ít hoặc gặp rất nhiều khó khăn.

Theo nguyên tác hạch toán thương mại thì các thành phần kinh tế tập thể, tư nhân không đầu tư vào các lĩnh vực như : vận tải đường sắt, vận tải hàng hoá lên miền núi, ra biên giới, hải đảo, đến vùng kinh tế mới, sản xuất phương tiện cho người tàn tật, đồ chơi cho trẻ em…
Để khắc phục nhược điểm đó của cơ chế thị trường, Nhà nước phải tổ chức các Doanh nghiệp nhà nước để duy trì và phát triển các hoạt động này. Có thể làm việc đó nhờ vào việc tài trợ của Ngân sách Nhà nước cho các doanh nghiệp thua lỗ. Trong trường hợp này, sự tài trợ cho doanh nghiệp là cần thiết, nên không thể coi đó là bao cấp.

Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, không chỉ ở Việt Nam mà dù ở bất kỳ nước nào, sự tồn tại của Doanh nghiệp nhà nước là một tất yếu khách quan.

Như vậy, không phải tất cả các Doanh nghiệp nhà nước cần phải đổi mới bằng giải pháp cổ phần hoá, mà chỉ có một bộ phận doanh nghiệp. Bộ phận doanh nghiệp ấy là gì? Căn cứ vào tình hình thực tế ở Việt Nam, Doanh nghiệp nhà nước được chọn lựa cổ phần hoá phải có đủ ba điều kiện sau đây:

– Là những doanh nghiệp vừa và nhỏ
– Không thuộc diện những doanh nghiệp cần thiết giữ 100% vốn đầu tư Nhà nước.
– Có phương án kinh doanh hiệu quả.

Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp lớn (Tổng công ty Nhà nước) cũng có thể thực hiện cổ phần hoá theo phương thức phát hành cổ phiếu theo quy định nhằm thu hút thêm vốn để phát triển sản xuất trong khi vẫn giữ nguyên giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp. Theo tinh thần nghị quyết 28/CP các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có tổng số vốn từ 300 tỷ đồng trở xuống và có số lao động dưới 1000 người, không kể số lao động làm hợp đồng theo thời vụ. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ dễ xác định giá trị tài sản hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn mà còn phù hợp với sức mua của cán bộ công nhân viên tại nhiệm sở và trong ngành.