Đối tượng điều chỉnh, phạm vi, lĩnh vực đầu tư, chính sách về đầu tư

 

            a. Đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư.

Quan hệ được Luật đầu tư điều chỉnh là các quan hệ: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, đầu tư trong nước và đầu tư ra nước ngoài.

+ Đầu tư trực tiếp, được quy định tại khoản 2 điều 3 Luật đầu tư.

+ Đầu tư gián tiếp, được quy định tại khoản 3 điều 3 Luật đầu tư (xem phần  khái niệm đầu tư).

+ Đầu tư trong nước, được quy định tại khoản 13 điều 3 Luật đầu tư.

Luật đầu tư quy định, đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam .

+ Đầu tư nước ngoài, được quy định tại khoản 12 điều 3 Luật đầu tư, theo đó, đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư.

+ Đầu tư ra nước ngoài, quy định tại khoản 14 điều 3 Luật đầu tư. Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư.hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài.

Theo Khoản 4 Điều 3 Luật đầu tư năm 2005, “nhà đầu tư” được hiểu là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư.

Chủ thể của các quan hệ đầu tư là nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam . Bao gồm:

+ Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh nghiệp.

+ Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã.

+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành lập trước khi Luật này có hiệu lực.

+ Hộ kinh doanh, cá nhân.

+ Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú tại Việt Nam .

Khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư quy định “nhà đầu tư nước ngoài ” là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

b.      Phạm vi, lĩnh vực đầu tư.

Luật đầu tư không hạn chế lĩnh vực đầu tư, nhưng theo quy định chung của pháp luật

Việt nam, chủ đầu tư không được phép đầu tư vào những lĩnh vực mà Nhà nước Việt

Nam giữ độc quyền hoặc những ngành nghề mà pháp luật Việt Nam cấm kinh doanh. Toàn bộ hoạt động đầu tư phải tuân theo nguyên tắc “tự do kinh doanh theo pháp luật”.

c.  Chính sách về đầu tư.

Chính sách đầu tư được Luật đầu tư quy định cụ thể tại Điều 4, nội dung  như sau:

+ Nhà đầu tư được đầu tư trong các lĩnh vực và ngành, nghề mà pháp luật không cấm; được tự chủ và quyết định hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam .

+ Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư.

+ Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư; thừa nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của các hoạt động đầu tư.

+ Nhà nước cam kết thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

+ Nhà nước khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư.

Trong trường hợp hoạt động đầu tư có liên quan đến điều ước quốc tế , pháp luật nước ngoài hoặc tập quán quốc tế thì các nhà đầu tư phải tuân thủ theo quy định của Luật đầu tư tại Điều 5. Cụ thể:

+ Hoạt động đầu tư của nhà đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

+ Hoạt động đầu tư đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó.

+  Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.

+ Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, trong trường hợp pháp luật Việt Nam chưa có quy định, các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng việc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế nếu việc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam