Dự báo phát triển thị trường dệt may

Thị trường nội địa

Thị trường xuất khẩu chiến lược và truyền thống được xem là thế mạnh của ngành dệt may Việt Nam trong suốt thời gian qua. Tuy nhiên, thị trường nội địa cũng được xem là nhiều tiềm năng và triển vọng lớn, với hơn 93 triệu dân và mức sống người dân ngày càng tăng, và nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao, trong đó có các nhu cầu về may mặc. Với quy mô thị trường dệt may nội địa có thể đạt 4-5 tỷ USD, cho thấy chiếm lĩnh được thị trường này thì sản phẩm dệt may Việt Nam sẽ phát triển mạnh, bền vững. Wazir Advisors dự báo dân số Việt Nam khoảng 103 triệu vào năm 2030 cùng với dân số trẻ chiếm tỷ trọng lớn. Với GDP trên một người vào năm 2030 đạt 5.400USD với mức chi phí cho các mặt hàng tiêu dùng năm 2030 là ước khoảng 1.890 USD/năm; trong đó chi phí cho hàng dệt may trung bình từ (8 – 9 %) cho thấy dung lượng của thị trường nội địa Việt Nam có thể đạt 10,1 –  11,4 tỷ USD vào năm 2030 [133].

Tuy vậy, thị trường sản phẩm dệt may nội địa còn phải đương đầu với nhiều thách thức trong đó có sự cạnh tranh trực tiếp của các doanh nghiệp dệt may FDI như Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc có tiềm lực về vốn, công nghệ, quản trị,…Rõ ràng cần có một lộ trình và bước đi phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may Việt Nam, tránh bị thua ngay tại sân nhà.

 b) Thị trường xuất khẩu

– Thị trường Mỹ: là thị trường tiêu thụ sản phẩm may khá lớn chiếm khoảng 28% trên toàn thế giới và là thị trường số một của các sản phẩm dệt may của Việt Nam. Với “quy chế đãi ngộ tối huệ quốc” (MFN) được xem là cơ hội lớn để các sản phẩm dệt may của các quốc gia phát triển và một số nước đang phát triển đều là thành viên WTO vào thị trường Mỹ, thông qua việc giảm và miễn thuế nhập khẩu hàng hóa nhưng trong đó Việt Nam chưa được áp dụng [134]. Trong thời gian tới, mặc dù CPTPP không có Hoa Kỳ nhưng Việt Nam vẫn sẽ có nhiều cơ hội để tiếp tục tăng xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ. Đặc điểm đáng chú ý tại thị trường khó tính như Mỹ là các nhà nhập khẩu chỉ ưa chuộng các sản phẩm dệt may trọn gói FOB thay vì hình thức may mặc kiểu gia công CMT. Các doanh nghiệp dệt may cần lưu ý tìm hiểu rõ thói quen tiêu dùng, thị yếu khách hàng Mỹ để có cánh tiếp cận sản phẩm phù hợp nhất. Bên cạnh đó, với khoảng 50 bang, pháp luật của từng bang và liên bang Mỹ về thương mại hàng hóa cũng là vấn đề xem xét cân nhắc để tránh bị các rào cản liên quan như Luật chống phá giá, chứng nhận nguồn gốc xuất xứ,…

– Thị trường EU: là một thị trường rộng lớn, đa dạng và có nhiều tiềm năng đối với sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam, với 28 quốc gia thành viên, hơn 500 triệu người, chiếm 43% tổng nhập khẩu sản phẩm dệt may toàn cầu [88]. Hiện nay EU đang có xu hướng chiến lược tăng cường mở rộng quan hệ với các nước châu Á, theo chiều hướng này Việt Nam ngày càng có vị thế quan trọng trong chiến lược mới của Châu Âu. Tuy vậy, các vấn đề về truy xuất nguồn gốc xuất xứ, chất lượng, nhãn hiệu, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp dệt may,…là những yêu cầu khắt khe tại thị trường hết sức tiềm năng như EU. Với thói quen và thị yếu cấp cao đòi hỏi các sản phẩm dệt may cao cấp có vẻ như được ưa chuộng và tiêu dùng tốt hơn các sản phẩm bình dân. Bên cạnh đó, các sản phẩm dệt may ít chứa hóa chất, có nguồn gốc từ thiên nhiên, có tính năng bảo vệ sức khỏe,..là những đặc tính mà cư dân EU rất ưa chuộng và thường xuyên lựa chọn. Ngoài ra, tính thời trang và phong cách đôi khi cũng được đặt lên hàng đầu, thay vì các tiêu chí khác thậm chí là giá thành. Sự thay đổi nhanh chóng và kịp thời nắm bătd các xu thế tiêu dùng tại nơi luôn được coi như là kinh đô thời trang EU rất cần được xem xét kỹ lưỡng trong chiến lược kinh doanh sản phẩm. Đặc biệt, khi FTA Việt Nam – EU có hiệu lực, với việc cắt giảm thuế từ 12 % xuống còn 0% chắc chắn sẽ là động lực tăng trưởng cho dệt may Việt Nam vào EU trong thời gian tới.

Thị trường Nhật Bản: Trung bình mỗi năm Nhật Bản tiêu thụ khoảng 4 tỷ USD cho hàng dệt may, là một trong những thị trường nhập khẩu lớn đối với sản phẩm dệt may Việt Nam. Quy trình sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài thường thông qua Công ty thương mại trước khi đến với người mua và cuối cùng là người tiêu dùng tại Nhật Bản. Luật nhãn hiệu cùng với tiêu chuẩn nghiêm ngặt về đảm bảo sức khỏe, ít sử dụng chất gây phản ứng độc hại với da là những quy định ngặt nghèo đối với các sản phẩm dệt may muốn xuất khẩu vào Nhật Bản. Quan hệ căng thẳng bởi tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong thời gian qua đang làm xu thế nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc, quốc gia xuất khẩu hàng dệt lớn nhất tại thị trường Nhật Bản bị suy giảm.  Giảm dần sự phụ thuộc vào các khâu trung gian và tuân thủ tối đa quy định chặt chẽ về chất lượng và độ an toàn của sản phẩm là hướng di cần thiết để Việt Nam gia tăng thị phần tại Nhật Bản khi cả 2 quốc gia đều là thành viên của hiệp định thương mại CPTPP.

– Thị trường Hàn Quốc: Hàn Quốc là thị trường có sự tăng trưởng khá cao, là quốc gia xếp thứ tư sau 4 thị trường lớn là Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản đối với xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Hiện nay Hàn Quốc đã chuyển xu hướng phát triển các sản phẩm dệt may sang phân khúc cao cấp sang thị trường trung cấp, đây là cơ hội để các sản phẩm dệt may Việt Nam tăng cường xuất khẩu vào thị trường này. Các doanh nghiệp FDI Hàn Quốc trong lĩnh vực dệt may hiện cũng đầu tư rất nhiều tại Việt  Nam.

-Thị trường khối CPTPP : Dệt May Việt Nam là ngành nghề duy nhất đồng hành cùng 7 năm đàm phán hiệp định TPP (nay là CPTPP) và các doanh nghiệp hết sức vui mừng khi các nỗ lực của Ngành đã có thành quả. Theo báo cáo của World bank, đây là 2 thị trường có sự phát triển cao, sử dụng dệt may khá lớn với khoảng 10 tỷ USD một năm trong khi thị phần xuất khẩu của dệt may Việt Nam còn nhỏ chỉ khoảng đến 500 triệu USD [134].Vì vậy, Dệt May Việt Nam vẫn nhìn thấy CPTPP có một cơ hội để mở rộng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dệt may vào 2 thị trường này để đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng trên 10% của Ngành.

Trung Quốc và Ấn độ là những thị trường đông dân với tống dân số 2,5 tỷ người, tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao. Trung Quốc với tổng mức nhập khẩu dệt may năm 2017 đạt 3,2 tỷ USD gần 11 % tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam [129]. Các nước khối BRIC là những thị trường xuất khẩu dệt may mới mà Việt Nam cần chú trọng để mở rộng và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm dệt may.– Thị trường khối ASEAN: Với quy mô thị trường 600 triệu dân, GDP dự kiến đạt 4,7 nghìn tỉ USD vào năm 2020 cho thấy tiềm năng kinh tế của khu vực Đông Nam Á đang có sự trỗi dậy mạnh mẽ trong thời gian qua.