Giá cả trong cơ chế thị trường

Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Trong nền kinh tế hàng hoá nói chung cũng như nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kì quá độ ở nước ta, giá cả là công cụ vô cùng quan trọng không những đẻ bảo đảm cho lưu thông hàng hoá cũng tứ là cho sinh hoạt hoạt động thương nghiệp được thuận lợi mà còn để điều tiết sản xuất và tiêu dùng theo hướng có lợi cho lao động. Giá cả trong thời kì quá độ thể hiện những lợi ích khác nhau, cho nên phải có chính sách đúng đắn để tạo ra một sự nhất trí giữa các lợi ích đa dạng đó.

Giá cả phản ánh tình hình cung-cầu, có thể nhận biết sự khan hiếm tương đối của hàng hoá qua sự biến đổi giá cả. Tin tức về giá cả có thể hướng dẫn đơn vị kinh tế có liên quan định ra những quyết sách đúng đắn, không có những thông tin về giá cả quyết sách sẽ không chuẩn xác thậm trí có những quyết sách mù quáng.Trong lĩnh vực phân phối,lưu thông và tiêu dùng, sự biến đổi giá cả cũng cung cấp những thông tin cần thiết để chính phủ, xí nghiệp và cá nhân định ra những quyết định.

Sự biến động của giá cả có thể dẫn tới sự biến động của cung cầu, sản xuất và tiêu dùng, biến động về lưu chuyển tài nguyên. Khi giá cả của một loại hàng hoá nào đó tăng lên thì người sản xuất nói chung có thể tăng sản xuâts mặt hàng đó và tất nhiên sẽ thu hút tài nguyên xã hội lưu chuyển vào ngành đó nhưng giá cả tăng có thể làm cho tiêu dùng giảm nhu cầu về loại hàng hoá đó. Khi giá cả giảm người sản xuất nói chung có thể giảm sản xuất loại hàng hoá ấy và do đó một phần tài nguyên có thể không lưu chuyển vào ngành ấy, tiêu dùng lại có thể tăng lên. Chính trong quá trình này mà giá cả điều tiết qui mô sản xuất của xí nghiệp sự bố trí tài nguyên giữa các ngành và cân đối giữa tổng cầu và tổng cung của xã hội.

Giá cả lên xuống như một bàn tay vô hình điều tiết lợi ích của mọi người, chỉ huy hành động của người sản xuất, điều tiết hành vi của người tiêu dùng.Giá cả còn có chức năng thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, giảm lượng lao động xã hội trung bình cần thiết và chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, thu nhập cá nhân. Giá cả chỉ có thể phát huy các chức năng trên dựa vào tiền tệ. Giá cả có đầy đủ tính đàn hồi, thị trường phải có tính cạnh tranh đầy đủ nếu không sẽ làm thiệt hại chức năng của giá cả.

Trước đây do cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu nên tác dụng của qui luật giá trị bị xem nhẹ, vì thế hệ thống giá cả của nước ta rất bất hợp lí. Giá cả không phản ánh được giá trị cũng không phản ánh được cung- cầu, tỷ giá giữa các hàng hoá khác nhau cũng như giữa các hàng hoá cùng loại cũng bất hợp lí. Sự bất hợp lí trên làm cho giá cả không phát huy được vai trò là đòn bẩy kinh tế mạnh mẽ đối với sự phát triển của sản xuất và phát huy tính tích cực của người lao động.

Để chuyển sang cơ chế thị trường, điều đầu tiên đặt ra đối với sự hình thành giá cả là phải lấy giá trị làm cơ sở và dựa vào yêu cầu của qui luật giá trị Đồng thời sự hình thành giá cả hàng hoá còn phải chịu quan hệ của qui luật cung – cầu hàng hoá, số lượng phát hành tiền giấy với chính sách kinh tế của nhà nước ở mỗi thời kì nhất định…Qui luật giá trị quyết định giá cả thông qua cung cầu có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Cho nên vận dụng qui luật giá trị, tình hình cung cầu trên thị trường để hình thành giá cả là phương tiện và là con đường quan trọng thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Mặc dù cơ chế thị trường ở nước ta trong thời kì quá độ lên CNXH là cơ chế có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, song cơ chế hình thành giá cả phải từ thị trường là chủ yếu, người sản xuất kinh doanh có quyền định giá.Cơ chế hình thành giá này đòi hỏi nhà nước trong khi chỉ đạo và quản lý giá cả phải làm cho tuyệt đại đa số hàng hoá phù hợp với giá thị truờng do các tổ chức kinh tế căn cứ vào quan hệ cung cầu của thị trường qui định, thông qua giá cả nhà nước điều tiết, hướng dẫn việc đầu tư một cách hợp lý.