Giải pháp để nâng cao ngoại tác tích cực của giáo dục đại học


Đ
ể thúc đẩy những NTTC của giáo dục ta cần phải có những kế hoạch cụ thể, đồng bộ tiến hành đối với tất cả các bậc học. Tuy nhiên, với nguồn lực hạn hẹp như hiện nay ta chỉ có thể chú trọng vào GDĐH, nơi trực tiếp cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Dưới đây là những kiến nghị của nhóm chúng tôi về những giải pháp nhằm nâng cao NTTC của GDĐH.

1.           Vai trò của nhà nước và doanh nghiệp:

Nếu thị trường hoàn hảo thì cơ chế thị trường sẽ mang lại hiệu quả nhất, tuy nhiên thị trường giáo dục không hoàn hảo, tồn tại những thất bại, vai trò của nhà nước can thiệp vào thị trường giáo dục là cần thiềt nhằm hạn chế những thất bại trên của thị trường.

Đối với vấn đề thông tin không cân xứng, nhà nước cần có những quy định cho nhà trường cung cấp những thông tin bắt buộc cho người đi học. Ví dụ, số lượng và chất lượng giảng viên, điều kiện học tập của sinh viên và khả năng tìm được việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Đối vấn đề cạnh tranh không hoàn hảo, nhà nước cần thiết có chế để tăng tính cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ giáo dục. Để làm được việc này, cho phép các trường tự do mở các ngành khác nhau để cạnh tranh lẫn nhau, mở cửa cho các trường đại học quốc tế vào Việt Nam để thúc đẩy sự cạnh tranh của các trường đại học trong nước. Nâng cao tính cạnh tranh đó có thể một số trường sẽ thất bại trong cạnh tranh nếu họ không đủ năng lực.
Vì tồn tại lơi ích ngoại tác nên doanh nghiệp và nhà nước cần phải đầu tư cho giáo dục, không thể để 100% chi phí cho người đi học phải gánh chịu. Phương thức đóng góp của nhà nước và doanh nghiệp làm thế nào cho đơn giản. Thực chất doanh nghiệp không cần thiết phải đóng góp trực tiếp cho giáo dục, mà doanh nghiệp đóng góp qua việc đóng thuế vào ngân sách nhà nước và như vậy nhà nước phải đầu tư lại cho giáo dục. Không phải chờ đợi vào việc đóng góp trực tiếp của các doanh nghiệp. Hơn nữa, vì người nghèo không có khả năng tham gia việc học theo cơ chế thị trường, nhà nước cần phát triển thị trường vốn để cho sinh viên vay vốn hoặc có các học bổng cho các sinh viên nghèo học giỏi.

2.           Vai trò của trường học:

Sinh viên đi học là đầu tư vốn con người để thu được kiến thức và kỹ năng nhằm tìm được việc làm trong tương lai với năng suất lao động cao và thu nhập cao. Như vậy, nhu cầu học của sinh viên xuất phát từ nhu cầu về kiến thức và kỹ năng của thị trường lao động. Việc đào tạo theo nhu cầu thị trường thực chất là đào tạo theo nhu cầu của sinh viên với giả định rằng sinh viên là người đã nhận biết được nhu cầu của thị trường lao động. Do đó, nhà trường chỉ cần đáp ứng nhu cầu của sinh viên là đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Để đáp ứng nhu cầu của sinh viên, nhà trướng cần tập trung vào các vấn đề sau đây.

Về việc xác định ngành học theo nhu cầu của sinh viên, thông qua số lượng thí sinh dự thi và điểm trúng tuyển. Nếu ngành nào có số lượng thí sinh nhiều và điểm trúng tuyển cao, đó là ngành xã hội có nhu cầu cao. Do đó, để đáp ứng nhanh và kịp thời nhu cầu thị trường, nhà trường cần có quyền quyết định trong việc lựa chọn ngành đào tạo. Tuy nhiên cũng cần chú ý, vì việc đào tạo đại học phải mất 4 năm, nên có thể xãy ra tình trạng sinh viên chọn ngành học theo nhu cầu thị trường lao động hiện tại mà không dự báo được trong 4 năm sau, điều này có thể xãy ra trình trạng dư  cung trong 4 năm sau nếu nhiều sinh viên đổ xô vào học một ngành mà đang có nhu cầu cao ngày hôm nay.
Về chương trình học, vì xác định nhu cầu học của sinh viên là để có kiến thức và kỹ năng lao động để làm việc cho các doanh nghiệp và cơ quan. Tuy nhiên, kiến thức và kỹ năng này sinh viên đang học hoặc chưa học khó có thể biết được nhu cầu của nhà tuyển dụng. Như vậy nhà trường phải đầu tư để khảo sát nhu cầu về kiến thức và kỹ năng mà doanh nghiệp cần, từ đó xây dựng chương trình nhằm đáp ứng nhu cầu đó.
Việc  chuyển đổi ngành của sinh viên từ ngành đang học sang ngành khác cần phải linh động hơn. Trong quá trình học nếu sinh viên phát hiện ngành học mình đang theo học không phù hợp với sở trường hoặc năng khiếu của mình, hay sinh viên phát hiện nhu cầu thị trường lao động thay đổi, nhà trường cần xem xét cho sinh viên chuyển ngành một cách đễ dàng hơn, nhưng việc chuyển đổi môn học phải được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo chất lượng sau khi chuyển ngành.
Về việc giảng dạy, cần thiết phải giảng dạy theo nhu cầu của sinh viên, đảm bảo cho sinh viên tiếp thu được cao nhất từ kiến thức của giảng viên và trí tuệ của nhân loại. Trí tuệ của nhân loại được chứa đựng trong các tài liệu. Sinh viên được quyền nhất định trong việc lựa chọn giáo viên giảng dạy, như vậy mỗi môn học cần có nhiều giáo viên giảng dạy song song để sinh viên có thể lựa chọn. Nếu một giảng viên qua nhiều học kỳ số lượng sinh viên lựa chọn  ít, nhà trường cần thiết phải xem lại chất lượng giảng dạy của giảng viên đó.