Giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát

Để hoàn thiên chính sách tiền tệ chúng ta phải biết hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ cũng như phối hợp điều hành các công cụ đó.

1. Dự trữ bắt buộc

Công cụ dự trữ bắt buộc có ưu điểm lớn trong việc kiểm soát cung tiền tệ là nó có thể tác động đến tất cả các ngân hàng như nhau và có tác dụng đầy quyền lực đến cung ứng tiền tệ. Tuy vậy, khi mà dự trữ bắt buộc không được trả lãi, chúng tương đương với một khoản thuế và có thể dẫn tới tình trạng phi trung gian hoá hơn nữa, dự trữ bắt buộc thiếu tính mềm dẻo, hoặc những thay đổi lớn và thường xuyên ở mức dự trữ cũng sẽ gây nên hỗn loạn và tổn thất cho các NHTM..

Trong giai đoạn hiện nay chưa nên quy định dự trữ bắt buộc đối với loại tiền gửi có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên mà chỉ tạm thời quy định dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi huy động dưới 12 tháng. Việc quy định trên sẽ khuyến khích các NHTM bằng các nghiệp vụ của mình (phát hành trái phiếu NHTM phát hành kỳ phiếu…v.v) thu hút nguồn vốn cho mục tiêu đầu tư và phát triển .

Nhưng để đảm bảo khả năng thanh toán của các tổ chức tín dụng, cần xử lý kỷ  luật việc thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng. Do đó ngoài việc phạt nặng các tổ chức tín dụng bằng hình thức lãi suất, ban thanh tra NHNN và các vụ liên quan ở NHTW cần tăng cường kiểm tra việc thực hiện chế độ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác.

2. Tái chiết khấu

Để thực hiện được công cụ tái chiết khấu có hiệu quả đòi hỏi phải có các công cụ truyền thống của nó là kỳ phiếu và thương phiếu. Thương phiếu là giấy chứng minh cho hành vi mua chịu bán chịu hàng hoá , hành vi này gọi là tín dụng thương mại.

Tín dụng thương mại sẽ giúp cho các doanh nghiệp rút ngắn chu kỳ kinh doanh của mình, tăng vòng quay của vốn. Do đó sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và tăng trưởng kinh tế cao. Vì vậy muốn áp dụng công cụ tái chiết khấu như là một công cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát đòi hỏi phải có nền tảng vững chắc cho sự ra đời của tín dụng thương mại.

Nên xác định mức chiết khấu bằng với lãi suất cho vay được tính bằng phí ngân hàng cộng với lãi suất sinh lợi của các chứng từ có giá, nhưng tối đa không vượt quá mức tiền của lãi suất cho vay ngắn hạn.

Mặt khác ngân hàng trung ương cần định rõ hơn việc vận dụng chính sách và công cụ tái chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu: có như vậy mức kích thích việc xuất hiện các loại thương phiếu, kỳ phiếu và chính chúng là cơ sở cho phép ngân hàng nhà nước trung ương vận dụng công cụ tái chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu hữu hiệu để thực thi chính sách tiền tệ.

3. Hoạt động thị trường mở

Về mặt lý luận cũng như trong thực tế thị trường mở là một công cụ quan trọng điều tiết linh hoạt khối lượng tiền tệ trong lưu thông và liên quan trực tiếp đối với cơ chế phát hành tiền của ngân hàng trung ương. Trong điều kiện ở nước ta hiện nay cần đưa công cụ thị trường mở vào hoạt động và tăng cường sử dụng công cụ này. Tuy nhiên đến nay cho thấy các điều kiện để đưa thị trường mở vào hoạt động còn chưa chín muồi. Vì vậy cần có các giải pháp hoàn thiện công cụ này để mau chóng đưa công cụ này vào hoạt động. Trước hết việc vận dụng công cụ thị trường mở đòi hỏi trước mắt không chỉ đối với tín phiếu kho bạc mà ngay cả với trái phiếu kho bạc và các chứng chỉ đầu tư của nhà nước (trái phiếu công trình), cần phải phát hành theo phương thức đấu thầu thông qua hoạt động của NHNNTW và án NHTM trong đó tăng cường vai trò của NHNNTW trong việc phát hành tiền để mua trái phiếu chính phủ và sau đó thực hiện mua bán lại trái phiếu chính phủ với các NHTM, với các tổ chức kinh tế theo tín hiệu thị trường .

Một mặt :

– Cần ban hành chính thức các quy chế hoạt động thị trường mở phù hợp với luật.

– Thành lập ban chỉ đạo thị trường mở để tiến hành mua bán thử

– Làm việc với bộ tài chính phát hành các tín phiếu kho bạc có kỳ hạn dưới 12 tháng để tạo công cụ cho thị trường mở. Đồng thời làm việc với Bộ tài chính để chuyển số nợ hiện nay của Bộ tài chính vay NHNN thành các trái phiếu chính phủ để NHNN sử dụng công cụ này cho hoạt động thị trường mở.

– NHNN phát hành tín phiếu NHNN thường xuyên, định kỳ với thời hạn ngắn.

– Hoàn thiện hệ thống thanh toán bù trừ để các ngân hàng tiến hành các giao dịch ngắn, phát triển nghiệp vụ vay mượn thúc đẩy thị trường liên ngân hàng phát triển là cơ sở để phát triển nghiệp vụ thị trường mở.

Để nghiệp vụ thị trường mở phát huy hiệu quả vốn có của nó trong việc điều hành chính sách tiền tệ, thì bên cạnh việc khẩn trương tạo ra các điều kiện như trên cho thị trường mở có thể hoạt động, cần thiết phải đổi mới đồng thời các công cụ chính sách tiền tệ như công cụ tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc, lãi suất các điều kiện cần thiết cho sự phát triển của thị trường liên ngân hàng…. để NHNN có thể điều hành một cách đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các công cụ, qua đó có thể nâng cao năng lực điều hành của NHNN nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.

4. Lãi suất

Trong những năm gần đây, chính sách lãi suất của NHNN đã được sử dụng như một công cụ quan trọng góp phần tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. Bằng các biện pháp điều hành linh hoạt theo chỉ đạo của chính phủ NHNN đã chuyển từ chính sách lãi suất âm sang lãi suất thực dương, lãi suất trần đã dần dần bám sát chỉ số trượt giá, và quan hệ cung cầu vốn tín dụng trên thị trường tiền tệ bảo toàn giá trị đồng tiền cho người gửi và được người vay chấp nhận từ đó ngày càng thu hút thêm nguồn vốn vào hệ thống ngân hàng , đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng cho sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển. Tuy nhiên, công cụ lãi suất khá quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát hiện nay. Do đó, tôi cũng đưa ra những ý kiến về các giải pháp để hoàn thiện hơn nữa công cụ lãi suất.

– Nên kiên trì nguyên tắc lãi suất thực dương để kích thích tiết kiệm đồng thời linh hoạt điều chỉnh lãi suất theo diễn biến lạm phát nhằm hỗ trợ đầu tư.

– Trong thời gian tới, trước mắt vẫn duy trì cơ chế lãi suất trần nhưng về phương diện tiến hành cần xúc tiến nhanh việc hình  thành các cơ chế chính sách nhằm thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tạo tiền đề mở rộng quá trình tự do hoá lãi suất.

– Cần phải có chính sách lãi suất linh hoạt (lãi suất cho vay và vay). Về việc xây dựng chính sách lãi suất, NHNN cần có chính sách ưu đãi cho một số ngành hoặc đối tượng kinh tế quan trọng.

Mặt khác lãi suất và tỷ giá là hai vấn đề nhạy cảm, có tác động tức thời và ảnh hưởng sâu rộng đối với toàn bộ các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Do giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, chính sách lãi suất và tỷ giá phải được xử lý đồng bộ trong quan hệ phù hợp. Chính vì vậy biện pháp điều chỉnh lãi suất đồng Việt Nam cần đi đôi với việc quy định lãi suất thích hợp đối với tiền gửi bằng USD để phát huy tối đa vai trò của công cụ lãi suất trong việc điều hành chính sách tiền tệ.

5. Hạn mức tín dụng

Trong nền kinh tế thị trường , hoạt động tín dụng đóng vai trò điều tiết thường xuyên đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Dựa vào việc mở rộng tín dụng người ta có thể đạt đến sự mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng cơ bản. Ngược lại thu hẹp tín dụng là một trong những cách thức quan trọng để hạn chế sự tăng trưởng kinh tế quá nhanh và sự gia tăng của lạm phát. Vì vậy công cụ hạn mức tín dụng có ý nghĩa quan trọng và việc xác định hạn mức tín dụng là rất cần thiết để thực hiện mục tiêu chống lạm phát. Song nó cũng gây khó khăn cho NHTM vì thế cần phải có những giải pháp hỗ trợ tiếp nối để làm giảm bớt những khó khăn cho NHTM.

Thứ nhất: để NHTM kinh doanh được tốt, huy động được nhiều vốn trong dân cư (đây là sự cần thiết để chống lạm phát) nên mở hướng cho chi nhánh NHTM cấp tỉnh có thể được mua tín phiếu NHNN khi thừa vốn. Như vậy nâng cao được tính năng động, sáng tạo vì nó gắn với lợi ích trực tiếp của nơi thừa vốn.

Thứ hai: để giảm bớt khó khăn cho Ngân hàng nông nghiệp, NHNN và chính phủ nên cho phép ngân hàng nông nghiệp không phải ký quỹ bắt buộc hoặc để 1 tỷ lệ rất nhỏ trên số tiền gửi.

Thứ ba: chính phủ nên giao cho các NHTM huy động thay cho kho bạc và theo chủ định của chính phủ về mức huy động và lãi suất đảm bảo kinh doanh . Số huy động được theo chỉ định sẽ chuyển giao cho kho bạc để đáp ứng yêu cầu chi tiêu của chính phủ.

Thực hiện tốt những giải pháp nêu trên vừa đảm bảo chống lạm phát vừa giúp cho các NHTM hoạt động có hiệu quả.