Giải pháp hoàn thiện thuế GTGT

3.1. Hoàn thiện về cơ chế chính sách

– Về đối tượng chịu thuế

Mở rộng các đối tượng chịu thuế GTGT, giảm bớt tối đa hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế. Áp dụng thuế GTGT đối với cả hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB cho phù hợp với nguyên tắc chung của thuế GTGT (thuế đánh trên tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ).

– Về thuế suất thuế GTGT

Giảm số lượng tối đa còn 2 mức thuế suất. Điều chinh các mức thuế suất để đảm bảo nguồn thu cho NSNN trong khi thực hiện lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu khi Việt Nam tham gia AFTA. Mức thuế suất dự kiến là 8% à 10% (vào năm 2005). Trong đó, sắp xếp lại để hạn chế các sản phẩm, dịch vụ thuộc nhóm thuế suất 8%, còn lại là nhóm thuế suất 10%, tiến tới áp dụng một mức thuế suất là 10%.

– Về phương pháp tính thuế:

+ Thực hiện thống nhất một phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ thuế.

+ Phân loại các hộ kinh doanh có quy mô nhỏ, thu nhập thấp đưa ra khỏi diện phải nộp thuế GTGT do chi phí quản lý cao so với lượng thuế thu được. Quy định mức doanh số xác định đối tượng là hộ kinh doanh nhỏ để chuyển sang áp dụng nộp thuế theo mức tỷ lệ % ấn định trên doanh thu.

+ Đẩy mạnh thực hiện chế độ kế toán đối với các hộ kinh doanh có quy mô lớn để chuyển những đối tượng này sang áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế.

+ Đối với các đối tượng khác như HTX, công ty trách nhiệm hữu hạn… bắt buộc thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn chứng từ là căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.

– Về ưu đãi miễn giảm thuế:

Giảm bớt, tiến tới việc xoá bỏ việc ưu đãi miễn giảm thuế cho tất cả các đối tượng, đảm bảo tính công bằng và bình đẳng cho các đối tượng nộp thuế.

– Về hoàn thuế GTGT

Đẩy nhanh hơn nữa tốc độ hoàn thuế cho các doanh nghiệp, góp phần tháo gỡ khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh.

3.2. Cải cách hành  chính thuế

– Hoàn thiện các văn bản pháp luật về thuế, đặc biệt là thuế GTGT. Hệ thống văn bản pháp luật sẽ được tách riêng ra thành hệ thống văn bản thuế và hệ thống văn bản hành chính đảm bảo các mục tiêu đơn giản, công bằng và không làm thiệt hại cho các doanh nghiệp. Doanh nghiệp tự tính, tự kê khai và nộp thuế tại kho bạc nhà nước. Cơ quan thuế chỉ có chức năng kiểm tra, giám sát việc chấp hành nghĩa vụ thuế của các đối tượng nộp thuế.

– Hoàn chỉnh chế độ xử phạt hành chính trong lĩnh vực thuế, đảm bảo tính nghiêm minh trong thực hiện nghĩa vụ thuế.

– Cải cách hệ thống kế toán thuế GTGT cho đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện.

– Nâng cao tính hiệu quả trong công tác quản lý sử dụng hoá đơn, chứng từ. Hiện nay, cho phép các đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ sử dụng hoá đơn thuế GTGT. Đối với hộ kinh doanh lớn tính thuế theo phương pháp trực tiếp, hộ kinh doanh nhỏ nộp thuế theo phương pháp ấn định, sử dụng hoá đơn bán hàng không ghi thuế GTGT. Trong thời gian tới, có thể thực hiện quy định doanh nghiệp tự in hoá đơn. Hoá đơn do các doanh nghiệp tự in phải đảm bảo nội dung theo quy định thống nhất của Bộ Tài chính. Đẩy nhanh nối mạng phần mềm quản lý thuế trong phạm vi toàn quốc nhằm quản lý chặt chẽ hơn việc phát hành và sử dụng hoá đơn chứng từ của các đối tượng nộp thuế.

3.3. Củng cố bộ máy tổ chức ngành thuế

– Cần củng cố tổ chức bộ máy ngành thuế theo hướng thống nhất về mặt hành chính trong quản lý thu thuế. Bộ máy hành thu phải bao gồm cả hệ thống thuế nội địa và hệ thống thuế xuất nhập khẩu.

– Hình thành chức năng quản lý, kiểm tra, thanh tra thuế một cách độc lập trong thực thi luật, pháp lệnh về thuế. Tách riêng tổ chức dịch vụ về thuế để hình thành các công ty; dịch vụ tư vấn thuế, dịch vụ kê khai thuế.