Giải pháp huy động vốn cho doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay

 

I. Những trở lực đối với hoạt động huy động vốn ở các DN Nhà nước.

1. Những vướng mắc trong việc đa dạng hóa hình thức huy động vốn.

Hình thức huy động vốn bằng cách vay ngân hàng đã thể hiện rất nhiều nhược điểm đòi hỏi doanh nghiệp Nhà nước phải đa dạng hóa hình thức huy động vốn. Tuy nhiên để đa dạng hoá hình thức huy động vốn thì trước hết phải có các nguồn vốn và cơ chế pháp lý để điều chế hướng dẫn hoạt động vốn từ các nguồn này. Hiện nay việc huy động vốn từ các nguồn ngoài nguồn tín dụng ngân hàng đang gặp phải những khó khăn:

– Huy động vốn từ nguồn chủ sở hữu: Nguồn vốn hình thành vốn chủ sở hữu cho doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) bao gồm nguồn từ ngân sách Nhà nước và nguồn từ lợi nhuận để lại. Nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN) hiện nay chủ yếu sử dụng để thành lập mới các doanh nghiệp và bổ xung vốn lưu động cho một số doanh nghiệp trọng điểm. Ngân sách Nhà nước cấp cho các DNNN đang có xu hướng giảm dần. Do vốn ít, hiệu quả sản xuất kinh doanh kém lợi nhuận phỉa trích để nộp khoản thu sử dụng vốn cho NSNN do đó lợi nhuận để lại dùng việc phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước sản xuất nhỏ. Vì vậy, việc huy động vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước từ các nguồn hình thành vốn chủ sở hữu của DNNN là rất khó khăn.

– Huy động vốn từ thị trường chứng khoán: DNNN huy động vốn từ thị trường chứng khoán chủ yếu bằng cách phát hành trái phiếu công ty. Nghị định 120 /CP ngày 17/9/1994 cho phép các DNNN phát hành trái phiếu để huy động vốn nhưng đến nay chưa có DNNN nào phát hành trái phiếu để huy động vốn. Nguyên nhân chủ yếu là do nước ta chưa thành lập được thị trường chứng khoán để thúc đẩy việc mua bán trái phiếu, các văn bản pháp lý hướng dẫn được phát hành trái phiếu công ty còn thiếu và chưa hoàn thiện, hiệu quả sản xuất kinh doanh ở các DNNN kém do đó người mua trái phiếu rất thận trọng lo ngại công ty bị phá sản.

– Huy động vốn từ nguồn tín dụng thuê mua: Hiện nay chúng ta đã có một số công ty cho thuê tài chính ra đời như: Công ty thuê mua và đầu tư của VietCombank, công ty tín dụng thuê mua của Vietindebank, công ty thuê mua và tư vấn của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, công ty thuê tài chính Kexin, công ty liên doanh và thuê tài chính Việt Nam (Vinalease). Hình thức tín dụng thu mua còn mang tính chất thử nghiệm ở nước ta, cả nước mới chỉ có Vietnamairline sử dụng để thuê máy bay. Nguyên nhân do các hình thức này còn rất mới mẻ đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam, đội ngũ cán bộ quản trị kinh doanh của các công ty còn chưa biết hoặc chưa có kinh nghiệm về loại hình dịch vụ này, môi trường pháp lý còn sơ sài chưa đồng bộ đã gây khó khăn cho việc triển khai hoạt động của các công ty cho thuê tài chính.

– Ngoài ra, doanh nghiệp Nhà nước còn có thể huy động vốn bằng cách huy động từ các nguồn tín dụng nhà cung cấp, tạm ứng của khách hàng,… nhưng các hình thức này cũng gặp phải một số khó khăn do qui mô vốn của các doanh nghiệp ở nước ta nhỏ lại luôn ở trong tình trạng thiếu vốn.

2. Những trở lực về tín dụng đối với doanh nghiệp Nhà nước.

Tín dụng đang là nguồn vốn quan trọng nhất đối với DNNN. Hiện nay việc huy động vốn từ nguồn này đang gặp phải những trở lực sau.
Thứ nhất, thể lệ tín dụng qui định đơn vị vay vốn phải thế chấp tài sản hoặc được bảo lãnh của người thứ ba đủ thẩm quyền người được bảo lãnh phải thế chấp tài sản cho người bảo lãnh. Điều này làm cho nhiều DNNN khó có thể vay được vốn từ ngân hàng nhất là vốn trung hạn và dài hạn. Đây không chỉ là ý kiến từ phía DNNN mà cả của một số cán bộ tín dụng “nhận khoán” mức cho vay họ nói rằng trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp vay để xây dựng mới thì làm gì có tài sản để thế chấp.

Thứ hai, để kiểm soát hoạt động tín dụng và lượng tiền cung ứng, Ngân hàng Nhà nước qui định hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại và trên cơ sở hạn mức tín dụng được duyệt ngân hàng thương mại phân phổ hạn mức tín dụng cho các Tổ chức kinh tế (khách hàng) cả hai loại hạn mức tín dụng trên đều xây dựng cho một thời gian dài (thường là 1 năm) do vậy dù DNNN có đủ các điều kiện vay vốn nhưng nếu hạn mức tín dụng không còn thì cũng không thể vay được vốn tín dụng ngân hàng.

Thứ ba, chính sách lãi suất chưa thể hiện rõ vai trò là đòn bẩy kinh tế chưa thực sự điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Chính sách lãi suất có thay đổi nhưng thay đổi còn chậm so với biến động của giá cả. Hiện nay lãi suất ngắn hạn là 1,5%/ tháng lãi suất trung và dài hạn là 1,55%/ tháng. Mức lãi suất này vẫn còn cao hơn so với tỷ suất lợi nhuận (khả năng sinh lời) của nhiều DNNN với mức lãi suất đó không mấy DNNN có thể vay đủ vốn của ngân hàng để sử dụng tiền vay có hiệu quả và trả nợ phần vay đúng hạn. Chính vì lãi suất đầu ra của ngân hàng cao nên hạn chế qui mô tín dụng, hạn chế khả năng vay vốn của DNNN, trong khi đó các DNNN luôn ở trong tình trạng thiếu vốn kinh doanh. Một nghịch lý khác là hiện nay các ngân hàng thương mại chỉ huy động vốn ngắn hạn mà khước từ cacs khoản tiền gửi dài hạn trong khi nền kinh tế đang bị thiếu vốn dài hạn. Rút cuộc ngân hàng thương mại (NHTM) tồn một lượng khá lớn vốn ngắn hạn trong khi đó “mặt hàng” vốn dài hạn được nhiều doanh nghiệp hỏi mua mà không có.
Thứ tư, năng lực và trình độ chuyên môn của một số cán bộ tín dụng trong các NHTM hiện còn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới nền kinh tế nhất là các NHTM ở quận huyện, thủ tục cho vay vốn còn rườm rà đối với khách hàng và thường chậm chễ so với yêu cầu thời gian cần cấp vốn sản xuất kinh doanh.

3. Những khó khăn về cơ chế quản lý tài chính DN Nhà nước.

Mặc dù, cơ chế quản lý tài chính ở DNNN đã được đổi mới rất nhiều nhưng vẫn còn một số tồn tại gây khó khăn cho việc huy động vốn của DNNN. Cụ thể là:

– Cơ chế quản lý tài chính hiện nay chưa xác định được rõ ràng quyền về tài sản, quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với vốn. Cơ chế quản lý tài chính ở DNNN còn phức tạp rườm rà không tại ra được tính linh hoạt trong hoạt động huy động vốn đặc biệt là sử dụng tài sản để thế chấp.
– Việc Nhà nước qui định DNNN chỉ được huy động vốn với tổng mức dư nợ không vượt quá vốn điều lệ. Trong tình hình hiện nay điều này chưa phù hợp vì hiện nay việc huy động vốn bằng cách tăng vốn chủ sở hữu của DNNN là rất khó khăn do NSNN eo hẹp, tích luỹ từ hoạt động kinh doanh nhỏ doanh nghiệp chủ yếu huy động vốn bằng cách vay ngân hàng mà hiện nay nợ của DNNN đã vượt xa vốn tự có do đó nếu qui định tổng mức vốn huy động không được vượt quá vốn điều lệ thì rất ít DNNN có khả năng huy động được vốn. Đây cũng là một trong các nguyên nhân chủ yếu gây ra nghịch lý DNNN bị thiếu vốn trầm trọng, ngân hàng thừa hàng ngàn tỷ đồng.

4. Là những trở lực từ phía doanh nghiệp Nhà nước.

– Qui mốn và và doanh nghiệp nhỏ công nợ lớn. Tài sản thế chấp của doanh nghiệp có giá trị nhỏ, công nghệ lạc hậu so với thế giới nếu có rủi ro xảy ra thì việc phát mại của ngân hàng rất khó khăn. Ngân hàng chỉ có thể cho doanh nghiệp vay một số lượng vốn bằng với vốn tự có của doanh nghiệp nếu vượt quá vốn tự có thì nếu có rủi ro xảy ra thì ngân hàng là người phải gánh chịu các rủi ro mất mát. Do đó DNNN rất khó có thể vay một lượng vốn lớn, để có thể tăng lượng vốn vay thì mấu chốt vấn đề là phải tăng được vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.

– Hiệu quả sử dụng vốn trong các DNNN hiện nay là rất thấp tình trạng lãng phí thất thoát vốn sảy ra còn phổ biến dẫn đến thua lỗ, mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Điều này làm giám đốc các NHTM e ngại khi đặc bút ký cho các DNNN vay vốn.

– Công tác kế hoạch hóa tài chính trong các DNNN còn rất yếu. Hoạt động sản xuất kinh doanh còn mang tính chất buôn chuyến do đó rất khó xác định được nhu cầu vốn cho một thời kỳ dài hạn làm cho hoạt động huy động vốn thường xuyên bị động do đó nhiều khi để huy động được vốn doanh nghiệp phải chấp nhận được chi phí vốn lớn.

– Đội ngũ cán bộ nhân viên làm công tác tài chính của doanh nghiệp còn rất yếu về trình độ chuyên môn nhất là các nghiệp vụ huy động vốn mới như là tín dụng thuê mua, phát hành trái phiếu.

II. Những giải pháp huy động vốn cho DN Nhà nước ở nước ta hiện nay.

1. Các giải pháp và tầm vĩ mô.

1.1. Hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý tài chính ở doanh nghiệp Nhà nước theo hướng:

– Nghiên cứu ban hành các chính sách khuyến khích DNNN chủ động huy động và tích tụ vốn cho sản xuất kinh doanh.
+ Mở rộng các hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp như phát hành trái phiếu, đa dạng hóa hình thức phát hành trái phiếu … Đồng thời có có qui chế giám sát chặt chẽ để bảo vệ lợi ích cho các nhà đầu tư.
+ Cải tiến hệ thống thuế, hệ thống tín dụng, cơ chế lãi suất tạo điều kiện cho DNNN tham gia vào thị trường vốn với tư cách là chủ thể của thị trường này, cụ thể:

Đối với hệ thống thuế: Nghiên cứu bãi bỏ tiền thu sử dụng vốn vì các DNNN chủ sở hữu là Nhà nước vốn là vốn của Nhà nước như vậy đứng trên góc độ chủ sở hữu không ai lại thu tiền sử dụng vốn vào ngay vốn của mình bỏ ra. Mặt khác, trong điều kiện hiện nay phần lớn các DNNN đang bị thiếu vốn kinh doanh trầm trọng, khả năng tích luỹ chưa cho lợi nhuận sau thuế còn ít nhu cầu bổ sung vốn còn lớn do vậy không nên thu khoản thu này.

Trong thực tế hiện nay tổng số tiền thu vào sử dụng vốn và NSNN hàng năm là không đáng kể, bỏ khoản thu này DNNN sẽ có thêm điều kiện tích luỹ phát triển sản xuất.

Đối với hệ thống tín dụng: Đặc biệt chú ý đến hình thức tín dụng thuê mua. Nghị định 64/CP mới là phác thảo ban đầu cần phải hoàn thiện và bổ sung, nâng cao tính chất pháp lý của văn bản nếu cần có thể ban hành Luật thuê tài chính bên cạnh Luật ngân hàng. Cần phải có các biện pháp để khuyến khích cả hai bên đi thuê và cho thuê.

+ Cho phép các Tổng công ty thành lập các công ty tài chính để chủ động thu hút vốn từ bên ngoài và để thuận lợi cho việc điều hòa vốn giữa các doanh nghiệp thành viên trong Tổng công ty.
– Tăng cường quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về vốn và tài sản sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp:
+ Cho phép DNNN sử dụng linh hoạt các loại vốn quĩ kinh doanh được chuyển đổi cơ cấu tài sản từ tài sản cố định sang tài sản lưu động và ngược lại.
+ Cho phép các doanh nghiệp chủ động nhượng bán thanh lý những tài sản cố định nằm ngoài tài sản phục vụ mục tiêu kinh doanh chính và tài sản đặc biệt được Nhà nước quản lý để thu hồi vốn phục vụ nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh mới.
+ Doanh nghiệp Nhà nước được cầm cố thế chấp tài sản để huy động vốn.

1.2. Tiếp tục sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước theo hướng:

+ Sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ để tạo ra các doanh nghiệp lớn có tiềm lực mạnh về tài chính khắc phục tình trạng phân tán manh mún có qui mô quá nhỏ.
+ Kiên quyết mạnh dạn sử lý các doanh nghiệp kinh doanh thu lỗ kéo dài, mất vốn bằng cách sáp nhập hoặc tuyên bố phá sản để tập trung vốn cho các DNNN khác.
+ Sắp xếp các doanh nghiệp Nhà nước: Đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước cần phải khống chế 100% thì Nhà nước phải có kế hoạch bổ xung vốn lưu động để tạo cho doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh. Đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần phải khống chế 100% tiến hành cổ phần hóa để tạo vốn doanh nghiệp, Nhà nước giữ cổ phần đủ khống chế doanh nghiệp phần còn lại có thể bán cho cán bộ công nhân viên và những người bên ngoài có nhu cầu mua cổ phần.

1.3. Các giải pháp về tín dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước.

Thứ nhất, đối với một số khoản tín dụng và dự án xin vay của các doanh nghiệp Nhà nước nên thay thế điều kiện tài sản thế chấp bằng tín chấp hoặc bảo lãnh. Qui chế bảo lãnh nên bỏ điều kiện người xin bảo lãnh phải thế chấp tài sản tại ngân hàng bảo lãnh. Cho vay bằng thế chấp ci áp dụng với doanh nghiệp có tính hình tài chính vững chắc có quan hệ lâu dài với ngân hàng, vay trả sòng phẳng.

Thứ hai, ngân hàng Nhà nước nâng hạn mức tín dụng cho phù hợp khả năng mở rộng tín dụng của từng ngân hàng thương mại, đáp ứng nhu cầu thu mua, đầu tư trung và dài hạn, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Lúc nhu cầu vốn tăng là biểu hiện kinh tế đã phát triển. Điều chỉnh hạn mức tín dụng trong “tầm tay” của NHNN tin chắc rằng công cụ này sẽ phát huy kịp thời để đáp ứng nhu cầu vốn cho DNNN đó cũng là sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thứ ba, qui định lãi suất cho phù hợp với tình hình thực tế của nền kinh tế.
Thứ tư, phát triển thị trường chứng khoán, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành trái phiếu và cổ phiếu doanh nghiệp để huy động vốn cho DNNN.

2. Giải pháp cụ thể về phía các doanh nghiệp Nhà nước.

Một là, đa dạng hóa hình thức huy động vốn. Đa dạng hóa hình thức huy động vốn là phương thức tài trợ vốn rất linh hoạt cho các doanh nghiệp nếu không đủ điều kiện vay vốn ở hình thức này thì có thể chuyển sang vay vốn ở hình thức khác vì vậy nhu cầu vốn luôn được đáp ứng kịp thời. Hiện nay DNNN có thể huy động vốn từ các nguồn tín dụng sau: phát hành trái phiếu; vai vốn và góp vốn của công nhân viên; vay nóng tiền vốn giữa các doanh nghiệp; mua chịu hàng hóa giữa các doanh nghiệp; hình thức tín dụng thuê mua, tín dụng trả góp …

Hai là, tăng cường công tác kế hoạch hóa tài chính đề DNNN chủ động hơn và có thời gian để lựa chọn các hình thức huy động vốn có hiệu quả nhất.

Ba là, kết hợp huy động vốn với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề rất quan trọng luôn được đặt ra đối với các doanh nghiệp nếu doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn điều đó cũng tương đương với việc tiết kiệm được một lượng vốn đáng kể mà lẽ ra phải huy động thêm nếu như không nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn.

Bốn là, đào tạo và tổ chức một đội ngũ cán bộ tài chính doanh nghiệp có năng lực có trình độ chuyên môn cao:
+ Thường xuyên mở các khóa đào tạo bồi dưỡng để nâng cao nghiệp vụ và thông tin cho cácn bộ tài chính doanh nghiệp.
+ Cần hình thành một mạng lưới cộng tác viên gồm các chuyên gia kinh tế để phối hợp tư vấn cho DNNN trong việc lựa chọn các hình thức huy động vốn.