Giải pháp khắc phục khó khăn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.Mở rộng phân công và phân công lao động xã hội

Phân công lao động là cơ sở của việc trao đổi sản phẩm. Để đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hoá,cần phải mở rộng phân công lao động xã hội, phân bố lại lao động và dân cư trong phạm cả nước cũng như từng địa phương, từng vùng theo hướng chuyên môn hoá, hợp tác hoá nhằm khai thác mọi quyền lực, phát triển nhiều ngành nghề, sử dụng có hiệu quả, cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện có và tạo việc làm cho người lao động. Cùng với mở rộng phân công lao động xã hội trong nước, phải tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài nhằm gắn phân công lao động trong nước với phân công lao động quốc tế, gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới.

Quan hệ sở hữu phải được xem xét và xây dựng trong mối tương quan với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và trinhf độ xã hội hoá của nền kinh tế. Cần xây dựng các loại hình sở hữu, quy mô và cấp độ phù hợp với đặc điểm của từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Đây là một vấn đề phức tạp, cần nắm vững nội dung bản chất, hình thức biểu hiện và điều kiện hình thành của các quan hệ sở hữu.
Cần nhận thức, xem xét đầy đủ cả về nội dung và cấu trúc quan hệ sở hữu. Xem xét mối quan hệ biện chứng giưuã quan hệ sở hữu với chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng kinh doanh.

Phải xây dựng quan hệ sản xuất, phải tién hành từ thấp đến cao, đa dạng hoá hình thức sở hữu và bước đi thích hợp làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất. Khắc phục những nhận thức không đúng về vai trò của sở hữu nhà nước cũng như vai trò của thành phần kinh tế nhà nước.
Kinh tế nhà nước phải củng cố và phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác để trở thành nền tảng của nền kinh tế có khả năng, có hướng dẫn các thành phần kinh tế khai thác phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.Giải quyết vấn đề sở hữu

Thực chất của quan hệ sở hữu là qg lợi ích, mà lợi ích đó lại được thể hiện ở quyền sở hữu, quyền sử dụng, quỳen làm chủ quá trình sản xuất và sản phẩm làm ra. Bảo đảm lợi ích không chỉ phản ánh ở nguyên tắc phan phối mà còn ở những hình thức phân phối ehể hiện trong quan hệ sở hữu và phải được thể chế hoá.

Quan hệ sở hữu phải được xem xét và xây dựng trong mối tương quan với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ xã hội hó của nền kinh tế. Cần xây dựng các loại hình sở hữu, quy mô và cấp độ phù hợp với đặc điểm của từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Đây là một vấn đề phức tạp, cần nắm vững nội dung bản chất, hình thức biểu hiện và điều kiện hình thành các quan hệ sở hữu.

Cần nhận thức, xem xét đầy đủ cả về nội dung cấu trúc quan hệ sở hữu. Xem xét mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sở hữu với quan hệ phân phối và quan hệ quản lý giữa quyền sở hữu với quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng kinh doanh.
Phải xây dựng quan hệ sản xuất tiến hành từ thấp đến cao, đa dạng hoá hình thức sở hữu và bước đi thích hợp làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất. Khắc phục những nhận thức không đúng về vai trò của sở hữu nhà nước cũng như vai trò của thành phần kinh tế nhà nước.

3.Xây dưng cơ sở hạ tầng

Hệ thống kết cấu hạ tầng cơ sở và dịch vụ hiện đại, đồng bộ cũng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế hàng hoá. Hệ thống đó ở nước ta đã quá lạc hậu, không đòng bộ, cân đối nghiêm trọng nên đã cản trở nhiều đến quyết tâm của các nhà đầu tư cả ở trong nước lẫn nước ngoài; cản trở phát triển kinh tế hàng hoá ở mọi miền đất nước.

Vì thế, cần gấp rút xây dựng và củng cố các yếu tố của hệ thống kết cấu đó. Trước mắt, nhà nước cần tập trung ưu tiên xây dựng, nâng cấp một số yếu tố thiết yếu nhất như đường sá, cầu cống, bến cảng, sân bay, điện nước, hệ thống thông tin liên lạc, ngân hàng, dịch vụ, bảo hiểm.

4.Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ

Trong kinh tế hàng hoá, các doanh nghiệp chỉ có thể đứng vững trong cạnh tranh nếu thường xuyên đổi mới công nghệ để hạ chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm. Muốn vậy, phải đẩy mạnh công cuộc cách mạng khoa học-công nghệ vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. So với thế giới, trình độ công nghệ của ta còn thấp kém không đồng bộ, do đó khả năng cạnh tranh của hàng hoá nước ta so với hhy nước ngoài trên cả thị trường nội địa và thế giới còn kém.

Đại hội IX tiếp tục khẳng định khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những nhiệm vụ cụ thể đối với các lĩnh vực khoa học trong những năm tới là:
Đối với khoa học xã hội và nhân văn: hướng vào việc giải đáp các vấn đề lý luận và thực tiễn, dự báo các xu thế phát triển, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng con người, phát huy những di sản văn hoá dân tộc, sáng tạo những giá trị văn hoá mới của Việt Nam.

Đối với khoa học tự nhiên: hướng vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn, xây dựng cơ sở khoa học của sự phát triển các lĩnh vực công nghệ trọng điểm và khai thác các nguồn tài nguyênthiên nhiên, bảo vệ môi trường, dự báo, phòng chống thiên tai.
Khoa học-công nghệ hướng vào việc nâng cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, nâng cáo năng lực cạnh tranh của Hàng hoá trên Thị trường, xây dựng năng lực công nghệ quốc gia, ứng dụng một cách sáng tạo những công nghệ nhập khẩu, từng bước tạo ra công công nghệ mới. Đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao.

Xuất phát từ những nhiệm vụ đó, giải pháp đặt ra đối với khoa học và công nghệ là:
-Tạo thị trường cho khoa học và công nghệ, đổi mới cơ chế tài chính nhằm khuyến khích sáng tạo và gắn ứng dựng khoa học và công nghệ với sản xuất kinh doanh, quản lý, dịch vụ.
-Tăng đầu tư ngân sách và có chính sách và có chính sách khuyến khích, huy động các nguồn lực khác để đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao.
Coi trọng nghiêm cứu cơ bản trong các ngành khoa học. Sắp xếp và đổi mới hệ thống nghiên cứu khoa học, phối hợp chặt chẽ việc nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học-công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn.Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công nghệ. Thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ, đãi ngộ đặc biệt đối với các nhà khoa học có công trình nghiên cứu xuất sắc.

5.Mở rộng, nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

Đại hội IX tiếp tục khẳng định thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa rậng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.
Việt Nam sẵn sàng là đối tác tin cậy, điều đó thể hiện rõ hơn chủ trương của Đảng ta “chủ động hội nhập quốc tế và khu vực, chủ yếu và trước hết về nền kinh tế”.Trong quan hệ hợp tác kinh tế, chúng ta muốn hợp tác lâu dài, có hiệu quả, tin cậy lẫn nhau với các nước trên cơ sở các nguyên tắc xác định; phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước, trong đó hợp tác lâu dài, tin cậy lẫn nhau, đối tác tin cậy của nhau là cơ sở để củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị vì mục tiêu và lưọi ích chung, vì độc lập, hoà bình và phát triển.

Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới: Tiếp tục giữ vững môi trường hoà bình và tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và dân chủ. Giải pháp của vấn đề mở rộng quan hệ đối ngoại là:

-Mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực theo nguyên tắc: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng tranh chấp bằng thương lượng hoà bình; Làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt và cường quyền.

-Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường. Nói chủ động hội nhập nghĩa là độc lập tự chủ, tự quyết định công việc.
-Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng, các nước ASEAN.
-Tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thông, các nước độc lập dân tộc, các nước trong phong trào Không liên kết.
-Thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nước phát triển và tổ chức quốc tế.
-Tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu.
-Củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết và hợp tác với đảng cộng sản và công nhân, với các đảng cánh tả, các phong trao giải phóng và độc lập dân tộc, với các phong trào cách mạngvà tiến bộ trên thế giới.
-Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền.
-Mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế.
-Tăng cường và nâng cao hiệu quả của công tác thông tin đối ngoại và văn hoá đối ngoại.
-Bồi dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, năng lực, đạo đức, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại.
-Hoàn thiện cơ chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, tạo thành sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả của công tác đối ngoại.

.6.Hình thành, tạo lập phát triển đồng bộ các loại Thị trường

Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm các loại thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ.

Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ: phát huy vai trò nòng cốt, điều tiết và định hướng của kinh tế nhà nước trên thị trường; đáp ứng nhu cầu đa dạng và nâng sức mua của nhân dân; mở rộng thị trường mới ở nước ngoài, chuẩn bị hội nhập thị trường quốc tế; hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh.

Mở rộng thị trường lao động trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, tạo cơ hội bình đẳng về việc làm cho người lao động, khuyến khích người lao động tự tìm việc làm, nâng cao trình độ, tay nghề.

Khẩn trương tổ chức thị trường khoa học và công nghệ, thực hiện tốt bảo hộ sở hữu trí tuệ, đẩy mạnh các dịch vụ thông tin, chuyển giao công nghệ.

Phát triển nhanh và bền vững thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm; hình thành đồng bộ thị trường tiền tệ, tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam.

Hình thành và phát triển thị trường bất động sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất; từng bước mở thị trường bất động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia đầu tư.

Trong kinh tế thị trường, mọi nhà nước, bất kể nhà nước đó thuộc chế độ chính trị nào, cũng đều phải can thiệp, quan lý nền kinh tế ấy. Giải pháp đưa ra là:

Thứ nhất, phải hình thành và phát triển đồng bộ cơ chế quản lý kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới sâu rộng cơ chế quản lý kinh tế, phát huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xoá bỏ bao cấp trong kinh doanh, tăng cường vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, sách nhiễu, gây phiền hà. Tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh, hợp tác để phát triển. Nhà nước định hướng phát triển kinh tế-xã hội; khai thác hợp lý các nguồn lực; đảm bảo các cân đối vĩ mô; điều tiết thu nhập; kiểm tra, kiểm soát, thanh tra mọi hoạt động kinh doanh; chống buôn lậu, làm hàng giả, gian lận thương mại.

Thứ hai, phải đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế. Đổi mới công tác kế hoạch hoá, nâng cao chất lượng xây dựng và chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường thông tin kinh tế, ứng dụng các khoa học và công nghệ trong dự báo, kiểm tra. Bảo đảm minh bạch, công bằng trong thu, chi ngân sách, nâng cao hiệu quả các chương trình quốc gia, nhất là các chương trìnhgiúp đỡ các xã đặc biệt khó khăn. Hoàn thiện phương thức quản lý vốn nhà nước đầu tư phát triển, vốn đầu tư xây dựng cơ bản; tăng cường quản lý nợ chính phủ, nợ nước ngoài. Tiếp tục cải thiện hệ thống thếu phù hợp theo hướng đơn giản, thống nhất không phân biệt đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài; nuôi dưỡng nguồn thu, hiện đại hoá công tác quản lý thuế của Nhà nước.

Xây dựng hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước thành các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ tự chủ, tự chịu trách nhiệm, có uy tín, đủ sức cạnh tranh; thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt; tách tín dụng ưu đãi của Nhà nước khỏi tín dụng thương mại, lập ngân hàng chính sách.
Các giải pháp mà chúng ta vừa xem xét ở trên là giải pháp tác động tới cả tầng vĩ mô và vi mô của nền kinh tế, mỗi giải pháp đều thể vai trò của nó trong một lĩnh vực riêng biệt nhưng giữa chúng lại có mối liên hệ qua lại biện chứng với nhau với một mục đích thống nhất là xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta ngày càng phát triển hơn. Các giải pháp này phải được thực hiện đồng bộ với sự cân nhắc trước khi thực hiện và tránh tình trạng chủ quan duy ý chí trong việc cải cách nền kinh tế vốn là lĩnh vực nhạy cảm nhất đối với những tác động từ bên ngoài. Các giải pháp trên thúc đẩy hình thành kinh tế thị trường ở Việt Nam với màu sắc riêng của Việt Nam.