Giải pháp nâng cao ngoại tác tích cực trong chương trình tín dụng ưu đãi cho SV nghèo học ĐH ở VN

1. Đối với bên cho vay vốn – Nhà nước và các Ban ngành liên quan.

Xác định thật kỹ lưỡng đối tượng được vay, phải có xác nhận gia đình nghèo, khó khăn một cách rõ ràng của chính quyền địa phương, giấy chứng nhận là sinh viên của trường đang theo học và phải kiểm tra chặt chẽ hộ khẩu gia đình sinh viên; có thể đến trực tiếp gia đình sinh viên để kiểm tra thực trạng kinh tế gia đình; để nguồn vay được phục vụ đúng đối tượng, và dễ dàng hơn trong việc thu hồi vốn và lãi vay.
NHCSXH phải tập huấn thường xuyên cho cán bộ phụ trách việc tiếp nhận và hướng dẫn sinh viên đi vay; cung cấp kịp thời những chỉ thị, quyết định mới của Thủ tướng chính phủ về quy định của chương trình cho sinh viên nghèo vay vốn học ĐH, để nhanh chóng hướng dẫn sinh viên, cho sinh viên nhanh chóng nhận tiền vay phục vụ việc học tập năm học mới.
Thường xuyên tuyên truyền lợi ích chương trình mang lại, để sinh viên có điều kiện tài chính học tập tốt hơn. Vận động những gia đình có con em học ĐH đi vay, phân tích để họ thấy được lợi ích nhận được lớn hơn chi phí bỏ ra rất nhiều, đặc biệt là những kiến thức mà con họ nhận được khi đi học ĐH, sẽ hữu dụng rất nhiều cho việc làm khi ra trường, cơ hội tìm kiếm việc cũng tăng cao, tương lai tươi sáng hơn, hạn chế tối đa việc sinh viên bỏ học ĐH vì không có tiền.
Phát hiện và xử lý kịp thời những trường hợp tiêu cực, cho vay sai đối tượng, hạn chế tối đa làm thất thoát ngân sách Nhà nước, tạo niềm tin cho những gia đình đang vay và những gia đình chưa mạnh dạn đi vay.
Nhà nước cần có những chính sách giúp đỡ, hỗ trợ cho những sinh viên ra trường nhưng không có việc làm hoặc có việc làm nhưng thu nhập thấp, không có điều kiện trả nợ đúng hạn, tạo điều kiện cho họ có những công việc tốt hơn, đảm bảo cuộc sống và yên tâm trả nợ cho Nhà nước. Bên cạnh đó, trong tương lai Nhà nước cũng nên có những chính sách giảm nợ, xóa nợ cho những đối tượng mà ngành nghề của họ không thể có thu nhập cao được, hoặc khả năng bản thân bị hạn chế không thể có thu nhập cao để giảm gánh nặng cho người nghèo, tạo phúc lợi cho họ. Nếu không, gánh nặng xã hội lại đè lên vai người nghèo, nghèo lại càng thêm nghèo, rồi lại sinh ra nhiều tiêu cực cho xã hội, thì vô tình chương trình này lại trở nên không hiệu quả, không mang lại lợi ích mà còn mang lại nhiều gánh nặng, rủi ro đè lên cả người vay và Chính phủ.
2 Đối với bên đi vay – Sinh viên nghèo và gia đình sinh viên nghèo.
Mạnh dạn liên hệ với chính quyền địa phương và NHCSXH địa phương để vay vốn cho con em có điều kiện học tập tốt hơn. Đồng thời, phải đôn đốc, nhắc nhở con em học tập tốt và làm việc tốt để trả nợ và lãi vay cho Nhà nước đúng thời hạn.
Cần làm thủ tục cho vay theo đúng sự hướng dẫn của NHCSXH, để không phải làm đi làm lại, tốn nhiều thời gian không cần thiết.
Thường xuyên theo dõi những quy định của chương trình để phối hợp nhanh chóng, kịp thời với NHCSXH ở địa phương. Đồng thời, nếu phát hiện những sai lệch từ phía NHCSXH phải mạnh dạn phản ánh ngay với chính quyền địa phương hoặc các phương tiện thông tin đại chúng để xử lý kịp thời, hạn chế tối đa mức thất thoát ngân sách, tự bảo vệ lợi ích của mình, tạo niềm tin cho các gia đình sinh viên nghèo chưa mạnh dạn đi vay.
3.Cần có sự phối hợp chặt chẽ của Nhà nước – Nhà trường – Địa phương – Gia đình trong chương trình này .

Nhà trường phải lập danh sách sinh viên nghèo cần được vay vốn và tạo điều kiện làm thủ tục vay vốn nhanh chóng, thúc đẩy quá trình xét duyệt cho vay, tránh để sinh viên phải chờ đợi quá lâu trong việc chờ đơn xác nhận để gửi về quê sinh vay vốn. Đồng thời phải thông tin kịp thời về những sinh viên nghèo bị vi phạm kỷ luật học tập, vi phạm tệ nạn xã hội là những đối tượng không đươc cho vay.
Các cơ quan Ban ngành cần xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của mình, để tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên nghèo vay vốn, đồng thời dễ dàng hơn trong việc thu hồi vốn cho Nhà nước.
Hiện nay, việc tìm ra phương pháp thu hồi vốn có hiệu quả vẫn còn nhiều tranh cãi, việc ghi nợ trên bằng tốt nghiệp hoặc giữ lại bằng tốt nghiệp sau khi sinh viên vay vốn ra trường làm điều kiện ràng buộc là một điều phi lý. Bản thân tôi cũng không đồng ý với những đề nghị đó. Bằng tốt nghiệp là giấy tờ quan trọng để sinh viên đi xin việc, đồng thời nó công nhận cho những năm học tập vất vả của sinh viên, nếu ghi nợ trên bằng tốt nghiệp sẽ làm mất giá trị tấm bằng, đồng thời làm ảnh hưởng đến lòng tự trọng của sinh viên đi vay vốn, làm như vậy Nhà nước đã không tôn trọng những sinh viên nghèo được vay vốn. Dưới đây, xin đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để việc thu hồi vốn được hiệu quả hơn:
Xây dựng cơ sở pháp lý ràng buộc sinh viên trong việc cùng gia đình trả nợ cho Nhà nước.
Thu nợ trực tiếp qua gia đình sinh viên đi vay, ràng buộc trách nhiệm phải trả nợ cho Nhà nước với gia đình sinh viên. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc trả nợ của gia đình sinh viên, đặc biệt là trường hợp chuyển đi nơi khác nhưng không báo cho chính quyền địa phương, nếu có xảy ra trường hợp này, phải có sự phối hợp của cơ quan điều tra, tuy nhiên, kinh phí cho việc thực hiện này là rất lớn, nếu xét thấy có thể xóa nợ cho những gia đình này thì nên làm, như thế có thể tạo phúc lợi xã hội cho người nghèo.
Có các biện pháp xử lý hành chính thật nặng ( có thể gấp 4-5 lần tiền vay và lãi đã nợ Nhà nước, tùy theo hoàn cảnh hiện tại của sinh viên), khi phát hiện ra những sinh viên cố tình không cùng gia đình trả nợ cho Nhà nước.
Đối với những số nợ chưa có điều kiện trả, Nhà nước cần xác định rõ ràng điều kiện sống, thu nhập hiện tại của những sinh viên đó, nếu xét thấy cần thiết nên giảm hoặc xóa nợ cho các đối tượng đó (tùy trường hợp mà nên có những quy định cụ thể)
Đối với những số nợ chưa biết được đối tượng chịu trách nhiệm cần phối hợp chặt chẽ và mạnh tay với những gia đình sinh viên này, thông qua hộ khẩu của gia đình sinh viên, nếu cần thiết phải có sự phối hợp của cơ quan điều tra trong việc tìm ra những đối tượng này, phải xử phạt nặng và cưỡng chế các sinh viên này phải trả nợ cho Nhà nước nếu họ có điều kiện trả nợ.