Giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ phân phối ở Việt Nam trong thời gian tới

Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, quan hệ phân phối có vai trò rất quan trọng nhưng bên cạch đó vẫn còn xuất hiện những nhược điểm như trên chúng ta vừa xét. Đứng trước tình hình đó thì Đảng và Nhà nước ta có rất nhiều chính sách nhằm phát huy vai trò, động lực của phân phối đối với nền kinh tế đất nước.

1. Giải quyết sự mâu thuẫn giữa kinh tế quốc doanh-tập thể và kinh tế tư nhân

Hiện nay vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu nào, ngoài giải pháp để cho các thành phần kinh tế quốc doanh tự đứng vững, tự phát triển trong cạnh tranh của cơ chế thị trường để giúp giải quyết sự yếu kém của thành phần kinh tế tập thể. Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành luật cổ phần hoá rộng rãi các xí nghiệp quốc doanh, đồng thời công bố luật phá sản đối với các xí nghiệp làm ăn thua lỗ. Điều đó sẽ làm cho các xí nghiệp, công ty trong thành phần kinh tế tập thể – quốc doanh phải tự vươn lên đẻ chiến thắng các áp lực trong cạch tranh, phát triển đủ sức chi phối các thành phần kinh tế khác, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN. Chúng ta cần thành phần kinh tế quốc doanh mạnh làm cơ sở kinh tế – xã hội để thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động. Nhà nước ta cần can thiệp bằng thiệp bằng luật lao động vào tiền lương tạo ra phân phối công bằng.

Đổi mới và tăng cường hoạt động của kinh tế tập thể trong lĩnh vực phân phối, lưu thông. Phát huy vai trò trung tâm kinh tế, khoa học – công nghệ, văn hoá – xã hội của doanh ngiệp nhà nước trong nông, ngư nghiệp, nhất là ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít người. Triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hoá. Bên cạnh những doanh ngiệp 100% vốn nhà nước sẽ có nhiều doanh nghiệp nắm đa số hay nắm tỷ lệ cổ phần chi phối. Gọi thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho người lao động tại doanh nghiệp, cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp tuỳ từng trường hợp cụ thể; vốn huy động được phải dùng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.

Thành phần kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những ngành, nghề, lĩnh vực và địa bàn mà pháp luật không cấm; khuyến khích hợp tác liên doanh với nhau và với doanh nghiệp nhà nước, chuyển thành doanh nghiệp cổ phần và bán cổ phần. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp cho các doanh nghiệp tư nhân; tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh.

2. Nâng cao vai trò điều tiết của Nhà nước đối với phân phối

Hơn lúc nào hết, trong cơ chế thị trường, Nhà nước được xem là nhân tố hàng đầu, thông qua Đảng lãnh đạo. Nhà nước là cơ quan quản lý xã hội, hành pháp và tư pháp, có nghĩa vụ tập hợp toàn bộ nguồn lực trong và ngoài nước nhằm phát triển toàn diện kinh tế, xã hội đất nước. Và vai trò của sự quản lý của Nhà nước đối với phân phối là hết sức quan trọng: tạo ra cơ sở kinh tế – xã hội để thực hiện phân phối và mở rộng phân phối theo lao động trong xã hội, từng bước thực hiện công bằng xã hội.

Nhà nước tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thị trường, tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục, hạn chế những tiêu cực của thị trường. Nhà nước tập trung làm tốt chức năng hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển, thực hiện những dự án trọng điểm bằng nguồn lực tập trung; đổi mới thể chế quản lý, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; điều tiết thu nhập hợp lý. Xây dựng pháp luật và kiêmt tra giám sát việc thực hiện; giảm mạnh sự can thiệp trực tiếp bằng biện pháp hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Dơn giản hoá các thủ tục hành chính, công khai hoá và thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong quan hệ với các doanh nghiệp và nhân dân; kiên quyết xoá bỏ những quy định và thủ tục mang nặng tính hành chính, quan liêu, bao cấp, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, gây phiền hà, sách nhiễu cho doanh nghiệp và nhân dân.

Phải đặc biệt chú ý tới vai trò cuă nhà nước, tổ chức bộ máy nhà nước và những con người được tuyển dụng đảm trách công việc Nhà nước. Cần phải đổi mới tận gốc quan niệm và phương pháp công tác cán bộ từ khâu đánh giá, tuyển chọn, sử dụng, bố trí cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt. Đời sống mới đòi hỏi phải tập trung trong bộ máy Nhà nước những con người có taid đức, nhìn xa thấy rộng, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tính toán hiệu quả, giữ nghiêm kỷ cương, phép nước. Đánh giá lựa chọn cán bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn cơ bản. Người có bản lĩnh chính trị, kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống lành mạnh, thực sự cần kiệm liêm chính trí công vô tư, gần gũi quần chúng, có năng lực và phẩm chất ngang tầm nhiệm vụ. đào tạo phải gắn với nguồn chức danh, yêu cầu sử dụng. Không đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo theo quy trình thuận nghịch.
Nhà nước định hướng sự phát triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để dẫn dắt nỗ lực phát triển theo định hướng XHCN; thiết lập khuôn khổ luật pháp, có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho các doanh nghiệp làm ăn phát đạt. Phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân; quản lý tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội. Thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng chủ sở hữu tài sản công của Nhà nước.

3. Các giải pháp chống chủ nghĩa bình quân

Sự phân phối bình quân là không công bằng, đó là một nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của sản xuất, vì người làm nhiều mà hưởng ít sẽ không cố gắng làm nhiều hơn, người làm ít mà hưởng nhiều sẽ dựa dẫm vào người khác và cũng không cố gắng làm nhiều hơn.
Để khắc phục tình trạng phân phối bình quân, từ khi đổi mới đến nay chúng ta chủ trương xác định sự cống hiến bàng sức lao động của mỗi người trong xã hội căn cứ vào “kết quả lao động và hiệu quả kinh tế”. Hiệu quả lao động phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ phụ thuộc vào các yếu tố như trình độ và khả năng của người lao động, cường độ và thời gian lao động mà nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau trong xã hội. Việc lấy hiệu quả lao động làm căn cứ để xác định sự cống hiến bằng sức lao động của từng người sẽ giảm bớt được sai lầm chủ quan có thể có của người tính toán khi thực hiện nguyên tắc theo lao động. Muốn phân phối được thực hiện công bằng thì việc xác định hiệu quả lao động là rất quan trọng và cần thiết, chúng ta cần xác định hiệu quả lao động của mỗi lao động dựa vào sự cống hiến của họ cho công việc ấy.
Việc hoàn thiện chính sách tiền công, tiền lương cũng góp phần chống chủ nghĩa bình quân.

4. Phát triển lực lượng sản xuất, khuyến khích làm giàu

Phương thức phân phối, ngoài tính chất của chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất còn do số lượng sản phẩm có thể phân phối quyết định. Do vậy, muốn thực hiện được ngày càng đầy đủ sự công bằng xã hội trong phân phối thì cần phải sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm. Thực hiện sự phân phối bình đẳng trong điều kiện của cải vật chất quá nghèo nàn chỉ là chia đều sự nghèo khổ. Để tiến lên sự bình đẳng trong phân phối, điều kiện kiên quyết đối với nước ta là phải phát huy mọi tiêmg năng vật chất và tinh thần của đáat nước. Ra sức phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Chúng ta cần phát triển kinh tế nhanh, có hiệu quả và bền vững, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá để góp phần thực hiện nguyên tắc phân phối vừa theo hiệu quả lao động, vừa theo vốn và tài sản để đạt mục tiêu công bằng xã hội. Mọi hoạt động kinh tế được đánh giá bằng hiệu quả tổng hợp về kinh tế, tài chính, xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh. Trước mắt, tập trung nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, nhất là doanh ngiệp Nhà nước, hiệu quả đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và các lợi thế so sánh của đất nước, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, nhu cầu đời sống nhân dân và quốc phòng, an ninh. Tạo thêm sức mua của thị trường trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu.

Mục tiêu phấn đấu của nhân dân ta là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh. Dân có giàu thì nước mới có thể mạnh, nứoc mạnh mới có khả năng thực hiện sự công bằng xã hội và có cuộc sống văn minh. Nhà nước không những khuyến khích mọi người làm giàu một cách hợp pháp mà còn tạo điều kiện và giúp đỡ người nghèo. Để có thu nhập, trước hết mỗi người phải được lao động, phải có việc làm. Muốn vậy, cần nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật cho người lao động để họ có thể tiếp thu công nghệ hiện đại làm việc trong điều kiện thuân lợi để tao thêm việc làm cho người dân; bên cạch đó cần đẩy mạnh xuất khẩu lao động để tăng thêm thu nhập cho người lao động cũng như cho nền kinh tế đất nước. Mặt khác, cần thực hiện xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, bảo hiểm xã hội và các hoạt động nhân đạo, từ thiện để từng bước đạt tới sự công bằng xã hội. Muốn vây, cần xây dựng và phát triển quỹ xoá đói giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước, quản lý chặt chẽ việc sử dụng quỹ này đúng đối tượng và có hiệu quả; tổ chức tốt việc thi hành pháp lệnh về người có công với đất nước; thực hiện và hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội, đảm bảo đời sống của những người nghỉ hưu ổn định và từng bước cải thiện; đẩy mạnh các hoạt động từ thiện.

5. Hoàn thiện các chính sách tiền công, tiền lương và phân phối lại thu nhập

Đối với những người làm công ăn lương, thì tiền lương phải thực sự là nguồn thu nhập chính để nuôi sống họ, từ đó có thể họ hoàn toàn yên tâm và say mê với nghề nghiệp. Vì vậy, việc giải quyết tốt vấn đề tiền lương sẽ có tác dụng kích thích sản xuất phát triển, ổn định và cải thiện đời sống không chỉ đối với gia đình cán bộ công nhân viên, mà còn ảnh hưởng đến mức sống chung của xã hội. Trên cơ sở đó, việc giaie quyết hợp lý vấn đề lương trong khu vực nhà nước còn có tác dụng to lớn trong việc hưoứng đạo tiền công ngoài khu vực quốc doanh. Chính vì vậy, cần phải tiếp rục xây dựng và hoàn thiện các chính sách tiền lương.

Phải làm cho tiền lương thực sự trở thành giá cả của sức lao động, điều đó đòi hỏi phải tính đúng, tính đủ giá trị sức lao động để làm cơ sở cho việc xác định mức tiền lương. Muốn vậy, mức lương cho người lao động phải thể hiện trình độ học vấn, tay nghề, quá trình lao động, lao động giản đơn hay lao động phức tạp. Mức lương phải thoả mãn nhu cầu tái sản xuất mở rộng sức lao đông, đảm bảo cho người lao động sống đủ mà không cần làm thêm gì. Nếu họ muốn làm giàu thì buộc phải làm thêm nhiều việc. Chỉ trên cơ sở như vậy tiền lương mới khuyến khích mọi người lao động luôn luôn nâng cao trình ọ tay nghề, khuyến khích thế hệ trẻ ra sức học tập không ngừng để nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật để thích ứng với cơ chế thị trường. Mặt khác cần xác định mức tiền lương tối thiểu: tức là mức lương đảm bảo cho một mức sống tối thiểu. Tuy nhiên, mức sống của người lao động phải phù hợp với yêu cầu và trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Mức lươngtối thiểu đó phải đảm bảo tính toán đầy đủ các yếu tố cần thiết của quá trình tái sản xuất sức lao động và phải đảm bảo tính thống nhất tạo điều kiện để giữ vững vai trò diều tiết của Nhà nước , phát huy quyền tự chủ của các tổ chức kinh tế trong lĩnh vực lao động.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý phân phối tiền lương cho người lao động đối với các lĩnh vực khác nhau thì khác nhau. Đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh cụ thể là cac doanh nghiệp quốc doanh, nguồn tiền chi trả không phải từ ngân sách Nhà nước mà phải từ kết quả sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp này; các doanh ngiệp này, sau khi bù đắp các shi phí, hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách, tổng thu nhập còn lại của doanh nghiệp do doanh nghiệp toàn quyền sử dụng chia cho nhân viên. Trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp, Nhà nước trên cơ sở biên chế nghiêm ngặt và tiếp tục thực hiện khoán quỹ lương theo khối lượng công việc.

Bên cạch chính sách tiền lương thì các chính sách về tiền công lao động cần được hoàn thiện chặt chẽ hơn nữa để đảm bảo công bằng cho người lao động. Cần phải đảm bảo cho người lao động nhận được tiền công đầy đủ cho những cống hiến mà họ đã bỏ ra. Điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với người lao động mà còn có ý nghĩa với xã hội để đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội.

Thu nhập cá nhân được hình thành từ nhiều hình thức phân phối khác nhau, cho nên sự điều tiết đối với từng hình thức thu nhập đòi hỏi phải nắm vững tính chất và mức độ tưngf loại thu nhập để việc điều tiết thể hiện đúng với tính chất, sát với thu nhập nhằm khuyến khích mọi người làm giàu một cách chính đáng và đảm bảo tính định hương XHCN trong phân phối thu nhập. Để điều tiêt thu nhập cần thực hiện thông qua hình thức điều tiết giảm và tăng thu nhập cá nhân. Điều tiết giảm được thực hiện thông qua hình thức thuế thu nhập cá nhân và hình thức tự nguyện đóng góp của cá nhân có thu nhập cao vào quỹ phúc lợi xã hội, từ thiện… Trong đó, thuế thu nhập cá nhân là hình thức quan trọng nhất chủ yếu với mọi nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Đối với nước ta , mục đích của sự điều tiết giảm thu nhập cá nhân là để thực hiện từng bước công bằng xã hội, đồng thời không triệt tiêu động lực tăng thu nhập hơn nữa của các bộ phận dân cư có thu nhập cao. Để làm tốt việc này cần nắm đúng thu nhập cá nhân trên cơ sở phân biệt được chính xác các nguồn thu nhập cac nhân bằng các biện pháp giáo dục, hành chín, kinh tế. Điều tiết tăng thu nhập cá nhân được thưch hiện thông quan ngân sách nhà nước, ngân sách của các tổ chức chính trị – xã hội,các quỹ baoe hiểm, trợ cấp, phụ cấp các loại, qua các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân nhằm trợ giúp thường xuyên cho những người có thu nhập thấp, những người thất nghiệp, những người tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro, nhưng người thuộc diện chính sách xã hội, bổ sung thu nhập mang tính chất bình quân cho các tổ chức, các doanh nghiệp vào cac dịp lễ, tết….