Giải pháp nhằm thúc đẩy đầu tư phát triển KCN ở Hà Nội

1. Các giải pháp vĩ mô

1.1. Thống nhất quan điểm về KCN

Các cấp các ngành cần thống nhất nhận thức KCN là một dự án đầu tư dài hạn, quy mô lớn. Từ khi có quyết định thành lập phải mất vài năm để đền bù giải phóng mặt bằng, phát triển hạ tầng mới có điều kiện thu hút đầu tư, sau đó cũng phải mất nhiều năm mới lấp đầy được. Chúng ta đã thành lập KCN bây giờ là bước chuẩn bị cho mục tiêu 5-7 năm sau đó là việc phát triển có tính toán cho thời gian dài. Đồng thời phải coi KCN là một thể chế của nền kinh tế, một dạng đơn vị kinh tế đặc thù mà trong đó cần có các quy định riêng, nổi trội nhằm có tốc độ phát triển nhanh, khai thác có hiệu quả các nguồn lực, thế mạnh của vùng lãnh thổ.

Sự đồng bộ trong nhận thức của lãnh đạo các cấp nhát là tỉnh và các Sở, Ban hành liên quan trong quá trình vận hành của KCN sẽ đảm bảo phát huy hiệu quả cao của KCN vì nó trực tiếp liên quan đến lợi ích của ngành, của địa phương và của nền kinh tế. Đồng thời khắc phục tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Không hỗ trợ lẫn nhau mà lại gây trở ngại trong quá trình xây dựng phát triển KCN.

1.2. Thể chế pháp luật và môi trường đầu tư

Thực tiễn phát triển KCN hơn mười năm qua cho thấy thể chế pháp luật là khoản quan trọng tạo khuôn khổ pháp luật để hình thành và phát triển KCN. Chính phủ đã ban hành một số chính sách khuyến khích đầu tư với những quy định thông thoáng hơn, giảm dần sự khác biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, tạo môi trường pháp lý ổn định cho quá trình đầu tư vào KCN.

Hệ thống chính sách hiện nay của ta đối với KCN còn nhiều hạn chế. Chính là một trong các nguyên nhân làm hạn chế quá trình đầu tư phát triển các KCN ở Hà Nội.

Do vậy, để phát triển các KCN cần tiếp tục đổi mới cơ chế liên quan đến hoạt động đầu tư vào các KCN cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện những văn bản mang tính pháp qui, khắc phục tình trạng thiếu rõ ràng, thiếu thống nhất và không cụ thể. Sớm ban hành luật KCN qua thử nhiệm sẽ điều chỉnh thêm. Ban hành qui trình thống nhất quản lý các dự án trên địa bàn Thành phố trong đó quy định rõ trách nhiệm của thời gian giải quyết những vấn đề nảy sinh từ các dự án đối với các Sở, Ban, ngành của thành phố. Quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của Ban quản lý KCN là đầu mối tập hợp tìm kiếm các giải pháp giải quyết những vấn đề phát sinh. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế “một cửa tại chỗ” theo hướng đề nghị của các Bộ, Ngành ủy quyền rộng hơn cho Ban quản lý. Tiếp tục cải cách thủ tục đầu tư xây dựng, thủ tục thuê đất…

Sửa đổi, bổ sung một số quy định của quy chế KCn hiện hành. Bỏ chế độ ủy quyền, chuyển sang chế độ quản lý có thẩm quyền của Ban quản lý KCN thành phố, tạo hành lang pháp lý thuận lợi bình đẳng để các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào KCN. Trong khi chờ đợi luật KCN ban hành cần bổ sung sửa đổi một số điểm trong nội dung của Nghị định 36/CP.

Nằm trong môi trường của cả nước, trong những năm gần đây lãnh đạo Thành phố rất quan tâm đến việc cải thiện môi trường đầu tư ở Hà Nội và thực tế đã tạo sự hấp dẫn hơn so với những năm trước đây. Nhưng đánh giá một cách khách quan vẫn còn một số vấn đề chưa được giải quyết trọn vẹn. Trong một số năm gần đây việc thu hút đầu tư nước ngoài đã chững lại và suy giảm nhất là khu vực dân doanh. Có thể là do khuôn khổ pháp lý; cơ chế khuyến khích đầu tư thường hướng vào Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, hạ tầng của Hà Nội phát triển nhưng chưa tránh khỏi chắp vá, không đồng bộ nhất là khu vực ngoài hàng rào tiến triển chậm.

Một số biện pháp để cải thiện môi trường đầu tư:

– Đảm bảo tính thống nhất giữa luật và các văn bản dưới luật liên quan đến khuyến khích và bảo đảm đầu tư vào KCN.

– Tạo lập một cơ chế khuyến khích đầu tư có tính cạnh tranh so với các tỉnh và thành phố khác.

– Khuyến khích đầu tư khu vực dân doanh.

– Bảo hộ có chọn lọc, có thời hạn một số ngành cần khuyến khích pt.

– Cơ chế hoàn trả chi phí đầu tư hạ tầng ngoài hàng rào.

– Chủ động tiếp cận vận động đầu tư các công ty có tầm cỡ.

– Sơ kết mô hình đầu tư vào KCN nhỏ để rút ra kinh nghiệm và quyết định kịp thời các chủ trương tiếp theo.

1.3. Quy hoạch

Quy hoạch là một bộ phận trong tổng thể công nghiệp của Thành phố và của cả nước, trong đó các ngành công nghiệp kết hợp theo nguyên tắc hợp quy hoạch ngành với vùng lãnh thổ. Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng. Còn quy hoạch cụ thể cho từng ngành nghề, loại hình KCN trên từng địa bàn là vấn đề lớn, mất nhiều thời gian và công sức của các cấp, các ngành mà thành phố phải thực hiện.

Để đảm bảo tính khả thi trong việc quy hoạch phát triển KCN, cần thực hiện một số vấn đề sau:

– Các KCN được lựa chọn hình thành phải phù hợp với qui hoạch phát triển kinh tế xã hội của Thành phố. Các ngành nghề thu hút vào KCN phải phù hợp với định hướng phát triển các ngành kinh tế kỹ thuật.

– Các loại hình và quy mô doanh nghiệp hoạt động trong KCN đa dạng có quy mô lớn, vừa và nhỏ đặc biệt khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong mối quan hệ hợp tác liên kết cùng tham gia sản xuất các loại sản phẩm, phát triển cụm công nghiệp và điểm công nghệp ở các thị trấn, thị xã, hình thành mạng lưới công nghiệp vừa và nhỏ phân bổ rộng khắp trên địa bàn Thành phố.

– Bảo đảm sự đồng bộ giữa phát triển cơ sở hạ tầng và quá trình đô thị hóa. Cần xác định giới hạn của các KCN trên cơ sở cân đối các điều kiện từ đó xác định bước đi với những quy mô phù hợp. Về nguyên tắc, cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước. Đảm bảo đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để đảm bảo sự phát triển thuận lợi và lâu bền cho KCN. Trong quy hoạch phát triển KCN, ngoài việc nghiên cứu những điều kiện trên, còn chú ý nghiên cứu dự báo thị trường tiêu thụ sản phẩm cung cấp nguồn lao động. Đảm bảo đồng bộ việc xây dựng hạ tầng trong và ngoài KCN.

– Nhược điểm lớn của chúng ta trong quy hoạch là tham quy mô lớn, đa ngành, chưa chú ý đúng mức việc lấp đầy, phủ kín KCN gây lãng phí lớn. Vì vậy, trên cơ sở các KCN đã có cần rà soát lại không chú ý tăng khối lượng mà hướng vào lấp đầy KCN.

– Mọi quy hoạch sau khi phê duyệt phải được công bố công khai để các cấp Chính quyền và nhân dân thực hiện. Về nguyên tắc, các KCN cần được bố trí ở ngoại vi thành phố có tính đến xu hướng mở rộng Thành phố và quá trình đô thị hóa để chống ô nhiễm môi trường.

– Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, đẩy mạnh công tác xúc tiến đàu tư có cơ chế hấp dẫn thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào KCN.

– Ưu tiên thành lập KCN trên cơ sở đã có một số doanh nghiệp nay mở rộng thêm hoặc cải tạo các KCN cũ, sau đó xây dựng các KCN mới phụ vụ cho việc chỉnh trang đô thị quy hoạch lại việc phát triển công nghiệp hóa trên địa bàn.

1.4. Đền bù, giải phóng mặt bằng

Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng phải dựa trên cơ sở quy hoạch dài hạn về tình hình phát triển KCN. Phải có chỉ dẫn, có ranh giới và phải được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng một cách thường xuyên. Điều này là một bảo đảm chắc chắn để giảm gánh nặng cho công tác đền bù và giải phóng mặt bằng. Những năm vừa qua, đền bù giải phóng mặt bằng luôn là vấn đề gay cấn, vừa bức xúc, căng thẳng, vừa tốn kém và làm cho công trình kéo dài làm chậm quá trình phát triển KCN, gây khó khăn cho các Nhà đầu tư. Đồng thời luôn xem xét trong việc định mức giá đền bù cho hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế, để tạo điều kiện cho việc giải quyết mâu thuẫn giữa các cấp với nhân dân trong việc đền bù.

Đối với đối tượng đền bù, một mặt chưa hiểu hêt chủ trương phát triển KCN, chính sách đền bù hoặc chính sách đền bù không thống nhất, mặt khác một số hộ cố tình không di dời… Khi luật lại thiếu điều khoản mang tính cưỡng chế đối với những trường hợp cần xử lý. Chính các nguyên nhân trên đã tác động đến tư tưởng, tình cảm đối với các đối tượng giao đất làm KCN, khiến cho một số người không đồng tình, gây khó khăn cản trở.

Chính vì vậy, công tác quy hoạch phải đi trước một bước, tuyên truyền giáo dục cho nhân dân về đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ trương phát triển KCN. Việc tính đền bù phải thỏa đáng theo nguyên tắc thị trường và có sự quản lý của Nhà nước thông qua quy định quy chế ban hành cho dân có điều kiện tái lập cơ sở mới.

1.5. Đầu tư phát triển hạ tầng.

Xây dựng cơ sở hạ tầng có chất lượng phục vụ tốt cho các doanh nghiệp trong KCN có ý nghĩa quan trọng. Việc quy hoạch KCN gắn với quy hoạch phát trểin hạ tầng là một trong những nội dung quan trọng nhất bao gồm việc xác định diện tích KCN, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hệ thống giao thông, nội bộ các công trình kiến trúc, hệ thống chuyển tải cấp điện, nước, xử lý chất thải thông tin, huy động vốn, hình thức đầu tư phát triển hạ tầng…

Tiến độ triển khai các dự án chậm phần lớn là do doanh nghiệp thiếu vốn, do đó cần thực hiện các giải pháp:

– Đa dạng hóa các nguồn vốn: Nhà nước, tín dụng, vốn vay của các tổ chức tín dụng, nguồn vốn từ các chủ đầu tư.

– Hình thành ngân hàng chuyên doanh phục vụ cho các KCN để huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội.

– Ưu tiên ODA cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

– Sử dụng quỹ đất đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào các hạng mục phù hợp với khả năng của họ.

– Về hình thức đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng: những năm gần đây, Nhà nước khuyến khích các loại hình doanh nghiệp đàu tư vào kinh doanh hạ tầng KCN nhưng khó khăn nhất là thiếu vốn và khả năng tiếp thị đầu tư do đó đã hạn chế khả năng phát triển và hiệu quả đầu tư. Vì vậy phải đa dạng hóa các hình thức đầu tư: Doanh nghiệp Nhà nước, công ty liên doanh phát triển hạ tầng, công ty tư nhân.

Thành phố Hà Nội có giá thuê đất rất cao (ở các KCN tập trung), điều này làm giảm sức hấp dẫn của các KCN ở Hà Nội. Vì vậy, giải pháp hữu hiệu là phải giảm giá thuê đất và có các biện pháp hỗ trợ đầu tư đồng thời áp dụng giải pháp đầu tư theo hình thức cuốn chiếu hoàn tất từng KCN rồi phối hợp.

1.6. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn để phát triển KCN

Để phát triển KCN phải kết hợp giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài để xây dựng hạ tầng cho KCN. Không nên có quan niệm sai lầm là nhất thiết phải có nguồn vốn của nước ngoài mới hiệu quả và khả thi cao hơn. Ví dụ như trường hợp KCN Sài Đồng B hoàn toàn sử dụng vốn trong nước nhưng lại đạt hiệu quả cao. Trong khi đó, KCN Hà Nội – Đài Tư được xây dựng bằng 100% vốn của Đài Loan, được cấp giấy phép năm 1995 nhưng đến nay vẫn chưa đạt kết quả. Nên nếu KCN nào hoạt động không hiệu quả thì cho phép chuyển đổi sở hữu.

1.7. Giải pháp về cung ứng lao động

Hiện nay, mặc dù thành phố đã có nhiều trung tâm đào tạo nhưng những trung tâm này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng của KCN. Mặt khác thành phố có thể cho phép các KCN có quyền tự chủ trong việc tuyển dụng và sa thải lao động, hoặc định hướng cho các KCN đặt hàng đào tạo lao động ở các trường dạy nghề.

1.8. Bảo vệ môi trường

Phát triển bền vững là mục tiêu và là định hướng tới của tất cả các quốc gia trên thế giới. Thực tế hiện nay nhiều nước trong quá trình công nghiệp đã bị ô nhiễm môi trường rất nặng và khó khăn khắc phục ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng các nguồn tài nguyên cũng như sự phát triển lâu dài của đất nước. Việt nam nói chung và Hà Nội nói riêng, tuy mới bước vào giai đoạn đầu của quá trình Công nghiệp hóa nhưng ô nhiễm môi trường đã ở mức báo động ở một số khu vực đặc biệt có nhiều chất thải nguy hiểm. Do vậy, đi đôi với việc quy hoạch phát triển công nghiệp phải chú ý tới việc bảo vệ môi trường bằng một số giải pháp sau:

– Khuyến khích sử dụng công nghệ sạch vào các KCN áp dụng công nghệ ít chất thải., thay thế chất độc hại bằng chất ít độc hại.

– Có những quy định cụ thể về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư, dự án sản xuất kinh doanh, sự đóng góp tài chính của các doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường.

– Từng bước chuyển hướng di dời những doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường ở các quận nội thành hay vùng ngoại vi.

1.9. Các biện pháp khác

Để khắc phục một phàn khó khăn ban đầu cho các dự án khi đầu tư vào KCN tại Hà Nội, thành phố có thể học hỏi kinh nghiệm của một số địa phương khác như chính sách hỗ trợ tài chính bằng việc miễn giảm phần thuế mà thành phố được hưởng cho các doanh nghiệp hoặc cho phép thanh toán chi phí sử dụng đất làm nhiều lần, cấp giấy phép chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho mỗi doanh nghiệp đâu tư vào KCN và đồng thời cho phép hoặc có quyền thế chấp để huy động vốn cho doanh nghiệp trong điều kiện cần thiết…

2. Các giải pháp vi mô

2.1. Giải pháp xúc tiến đầu tư vào KCN

Ban quản lý KCN cần phối hợp với các cơ quan chức năng như phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Bộ kế hoạch và Đầu tư đại diện ngoại giao, các công ty kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN trong công tác tuyên truyền giới thiệu các KCN Hà Nội nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Đồng thời có kế hoạch mời các đoàn doanh nghiệp có tiềm năng đến thăm các KCN Hà Nội và cùng Phòng thương mại và Công nghiệp thu hút các nhà đầu tư trong nước để hướng dẫn tạo điều kiện cho họ hiểu kỹ về KCN Hà Nội, từ đó giúp họ hình htành phương án khả thi đầu tư vào KCN. Ban quản lý KCN cấp tỉnh cần phối hợp với các công ty phát triển hạ tầng KCN tập trung sức vào việc tổ chức vận động đầu tư vào KCN dưới nhiều hình thức thỏa đáng.

Để chủ động đầu tư vào KCN cần mạnh dạn mở một số chi nhánh đại diện của ta theo hình thức thích hợp ở một số khu vực quan trọng như: Singapore, Nhật Bản, Mỹ, Tây Âu…

Ban hành các chính sách hướng dẫn đầu tư vào KCN tại Việt Nam, trong đó nêu rõ các chính sách, thủ tục thực hiện đầu tư, giới thiệu những thông tin kinh tế cơ bản về các công trình hạ tầng đã xây dựng, giá thuê đất, giá thuê hạ tầng, các ưu đãi…

Tổ chức các đoàn đi xúc tiến đằu tư tại các nước có tiềm năng, tổ chức các cuộc hội thảo tại các tỉnh, thành phố.

Tổ chức các Hội nghị, hội thảo tuyên truyền về môi trường đầu tư của thành phố  Hà Nội và các chính sách pháp luật và ưu đãi của Thành phố.

Về phía các công ty xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng, song song với việc tập trung xây dựng tốt cơ sở hạ tầng phải chú ý đến công tác nghiên cứu thị trường, nghiên cứu người tiêu dùng để xây dựng, có chiến lược Marketing hữu hiệu, cụ thể phải thực hiện các công việc sau:

– Nghiên cứu thị trường gồm thị trường trong nước, nước ngoài, nắm rõ nhu cầu đòi hỏi của thị trường để xây dựng, sửa đổi, tu chỉnh cơ sở hạ tầng cho phù hợp.

– nghiên cứu người tiêu dùng: Người tiêu dùng ở đâu là Nhà đầu tư. Cần nghiên cứu để biết Nhà đầu tư nào sẽ đến với mình, họ thích sản phẩm thế nào, giá cả ra sao. Cần nghiên cứu lợi thế so sánh giữa các KCN.

– Nghiên cứu động cơ mua hàng: Nhà đầu tư đến với ta để thuê đất xây dựng nhà xưởng để sản xuất, xuất phát từ động cơ, động cơ xuất phát từ nhu cầu, nhưng không có nghĩa là cứ có nhu cầu là đầu tư.

– Nghiên cứu sản phẩm: cần xem xét KCN của mình đã đáp ứng được nhu cầu thị trường hay chưa, cần cải tiến vấn đề ra sao.

2.2. Không ngừng hoàn thiện Bộ máy của Ban quản lý các KCN và CX Hà Nội

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế “một cửa tại chỗ” và thực hiện tốt cơ chế này theo đúng nghĩa của nó.

Duy trì hoạt động của Ban quản lý ổn định, thực hiện tốt công tác lãnh đạo của Ban, sự phối hợp của Ban với các cơ quan chức năng, sự phối hợp giữa các Phòng ban trong ban quản lý.

Tiếp tục đào tạo và nâng cao trình độ của cán bộ quản lý, chuyên viên của Ban quản lý để có thể đáp ứng các yêu cầu của công việc. Có thể cử cán bộ sang các địa phương khác thậm chí ra nước ngoài để học tập và tích lũy kinh nghiệm.

2.3. Chủ động tạo nguồn lao động cho các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN

Hà Nội có điều kiện thuận lợi hơn so với các địa phương khác, là trung tâm khoa học công nghệ và đào tạo, trình độ dân trí và nghề nghiệp cao hơn. Nhưng thực tế ở một số KCN ở Hà Nội cho tháy nhu cầu và nguồn lao động không thống nhất. Trong khi lực lượng lao động ở Thành phố rất đông nhưng các doanh nghiệp trong KCN vẫn khó khăn trong khi thuê lao động. Để khắc phục tình trạng này và tạo nguồn lao động lâu dài cho KCN cần thực hiện một số giải pháp:

– Dựa vào dự báo và quy hoạch phát triển KCN để xây dựng kế hoạch đào tạo trong đó có yêu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề.

– Nhà nước có cơ chế khuyến khích các cơ sở đào tạo lao động thông qua bổ sung kinh phí, miễn giảm thuế cho các cơ sở đào tạo như tổng cục dạy nhgề, các cơ quan trung ương khác…

– Xúc tiến việc thành lập cơ sở đào tạo công nghệ và quản trị kinh doanh.

2.4. Hình thức đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng

Tập trung đầu tư theo hình thức cuốn chiếu, đồng thời kết hợp giữa xây dựng cơ sở hạ tầng và kêu gọi vốn đầu tư để tránh lãng phí. Vốn đầu tư thực tế cũng chứng minh mô hình nửa cuốn chiếu này phù hợp KCN Sài Đồng B và một số KCN ở các địa phương khác như Tân Thuận.

2.5. Phát triển công nghệ thông tin

Là các doanh nghiệp sản xuất trực tiếp, việc quản lý nhân sự, tiền lương, vật tư sản xuất chiếm một ví trí rất quan trọng trong việc quản trị doanh nghiệp. Hệ thống thông tin tại doanh nghiệp sẽ hỗ trợ rất tích cực cho công tác quản lý, giúp đạt hiệu quả tối đa. Doanh nghiệp có thể quảng cáo sản phẩm của mình trên mạng ở mọi lúc, mọi nơi. Vì vậy ngay bây giờ các KCN phải xây dựng mạng lưới thông tin hiện đại, không chỉ đáp ứng nhu cầu hoạt động đơn thuần của Ban quản lý các KCN & CX mà còn là một tiện tích nhằm đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh cũng như thu hút các nhà đầu tư cho KCN.

Có thể nhanh chóng xây dựng trang chủ (Website) về KCN, KCX tại Hà Nội, hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng phương thức thương mại điện tử.

Ngoài ra, phía Ban quản lý phải xây dựng danh mục các ngành hàng lợi thế để thu hút mời gọi đầu tư. Giúp cho việc đẩy nhanh tốc độ lấp đầy các KCN, chuẩn bị hình thành và xây dựng các KCN mới.