Giải pháp phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam

1.      Các giải pháp tạo dựng môi trường đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh
Khuyến khích hình thành các khu, cụm công nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng, nguyên vật liệu phụ trợ cho các ngành công nghiệp; Xây dựng các KCN&KCX một cách tập trung, có mục tiêu, trong đó có nhiều doanh nghiệp tư nhân có thể trở thành các nhà cung cấp cho các doanh nghiệp FDI có thể coi là một hướng đi tích cực và thiết thực nhằm phát triển ngành CNPT ở nước ta trong những năm tới. Chính sách thúc đẩy CNPT không đơn thuần là “marketing quốc gia” mà phải có định hướng hỗ trợ doanh nghiệp tham gia vào hệ thống cung cấp cho một số những nhà đầu tư mục tiêu. Đây còn là giải pháp nhằm tạo môi trường hấp dẫn để có thể thu hút được FDI nhiều hơn trong tương lai.
Tiếp tục đổi mới hoạt động của các DNNN, đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá để nâng cao tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này và thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác. Bên cạnh đó, tiếp tục quá trình cải cách hành chính, nâng cao tính minh bạch của môi trường sản xuất kinh doanh.
Có chính sách khuyến khích đầu tư, khuyến khích chuyển giao công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ tìm kiếm, điều tiết thị trường, tạo điều kiện về vay vốn, thuê mặt bằng, nhà xưởng, ưu đãi về thuế đối với các công ty, tập đoàn nước ngoài, cũng như các doanh nghiệp nội địa hoạt động trong lĩnh vực CNPT.
Giảm hoặc bãi bỏ các loại thuế đánh vào linh kiện nhập khẩu để giảm giá thành sản phẩm láp ráp, để các sản phẩm này xuất khẩu được. Mở rộng thị trường ra các nước khác để tăng quy mô sản xuất thành phẩm cuối cùng mới kích thích các công ty nhỏ và vừa nước ngoài đến đầu tư sản xuất sản phẩm CNPT.
Nhà nước cũng nên có những chính sách để phát triển CNPT với những ưu đãi về thuế, mặt bằng cho các doanh nghiệp để khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân, DNNVV đầu tư bởi đây là nòng cốt của quá trình phát triển CNPT. Lập chế độ thưởng đặc biệt cho những công ty có thành tích cao về xuất khẩu các mặt hàng thuộc các ngành CNPT.
2.      Các giải pháp về khoa học công nghệ:
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm theo chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn cơ sở làm căn cứ cho việc định hướng phát triển. Hỗ trợ phát triển và nâng cấp các tổ chức kiểm định, đánh giá chất lượng sản phẩm phụ trợ thuộc nhiều thành phần kinh tế đạt trình độ quốc tế.
Đầu tư từ nguồn vốn ODA cho các khoa chuyên ngành của trường đại học và cao đẳng để hoàn thiện công nghệ cơ bản… gắn kết các cơ sở đào tạo với các hoạt động của DN. Đồng thời khuyến khích các Viện nghiên cứu chuyên ngành triển khai nghiên cứu, thực nghiệm các đề tài, dự án… phục vụ phát triển CNPT.
Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI có các dự án chuyển giao công nghệ và khuyến khích chuyển giao công nghệ tiên tiến vào sản xuất tại Việt Nam, hỗ trợ chi phí mua bản quyền cho các DNNVV phát triển CNPT. Xây dựng và thực hiện các chương trình dự án hỗ trợ công nghệ cho các doanh nghiệp thông qua chuyên gia công nghệ hoặc các công ty FDI. Một số nước phát triển, đặc biệt là Nhật, có chương trình xúc tiến chuyển giao công nghệ cho các DNNVV tại các nước đang phát triển. Việt Nam nênđặc biệt tiếp nhận nhanh sự hỗ trợ này để nhanh chóng tăng khả năng cung cấp các mặt hàng CNPT hiện có, nhất là các mặt hàng đang sản xuất tại các DNNN.
Cho rà soát lại các cơ sở sản xuất các ngành phụ trợ tại các công ty nhà nước, ưu tiên cấp vốn và tạo các điều kiện khác để đổi mới thiết bị, thay đổi công nghệ tại những cơ sở đã có quy mô tương đối lớn. Lập chế độ tư vấn kỹ thuật và quản lý để mời các chuyên gia nước ngoài vào giúp thay đổi công nghệ và cơ chế quản lý tại từng DNNN vừa nói.
3.         Các giải pháp về cơ sở hạ tầng để phát triển CNPT
Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện các cơ sở giao thông, vận tải như các bến cảng, sân bay, đường sắt, đường bộ, giao thông đô thị. Hình thành các kho tàng, điểm tập trung hàng hoá ở các vùng kinh tế trọng điểm để gia tăng điều kiện phát triển công nghiệp.
Tập trung xây dựng một số khu, cụm CNPT có trang thiết bị, công nghệ tiên tiến gắn với các vùng có các ngành công nghiệp chính phát triển. Dồn hết mọi khả năng để kêu gọi FDI đầu tư vào việc sản xuất trong các ngành CNPT. Cụ thể là chỉ định một số khu công nghiệp để ưu tiên giải quyết ngay và triệt để các mặt về hạ tầng, về thủ tục hành chính, về cung cấp nguồn nhân lực cần thiết, v.v… và đặt ra các đội chuyên trách thường xuyên theo dõi hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài để phát hiện ngay các vướng mắc và giải quyết ngay.

 

4.         Các giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực
Tăng cường đào tạo cán bộ kỹ thuật các ngành thiết kế, chế tạo máy, luyện kim, điều khiển tự động, điện tử tin học để làm chủ các công nghệ được chuyển giao, nghiên cứu thiết kế tạo ra công nghệ nguồn và kiểu dáng sản phẩm riêng của Việt Nam.
Thu hút sự hỗ trợ của chính phủ các nước phát triển như Nhật Bản, EU… để đào tạo nguồn nhân lực cho CNPT. Hiện nay, Nhật Bản và một số nước khác đang có chế độ gửi những người đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng còn sức khoẻ và ý chí muốn đem kinh nghiệm của mình đến giúp các nước đang phát triển. Việt Nam có thể tận dụng nguồn lực quốc tế này để nhanh chóng tăng sức cạnh tranh của các ngành phụ trợ công nghiệp. Bên cạnh đó, đặc biệt khuyến khích các doanh nghiệp FDI tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực.
Tạo điều kiện đầu tư trang thiết bị cho các cơ sở nghiên cứu, chủ động đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên ngành, cũng như hợp tác nghiên cứu với các đối tác nước ngoài trong một số chương trình đào tạo nguồn nhân lực để phát triển CNPT.

5.         Các giải pháp về liên kết Doanh nghiệp
Kết nối các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội địa trong việc phát triển sản xuất hỗ trợ thông qua các chương trình giới thiệu nhu cầu phát triển và sử dụng sản phẩm phụ trợ và hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp này; Xây dựng các chương trình hợp tác dài hạn với các đối tác chiến lược – các công ty, tầm nhìn 2020.
Xây dựng các trang web chuyên ngành CNPT, xây dựng cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phụ trợ, kênh thông tin cho các công ty linh kiện phụ tùng và các nhà sản xuất FDI, SOE… để làm cơ sở cho việc giới thiệu, tìm kiếm các mối liên kết ngang; Tổ chức và hỗ trợ thành lập các trung tâm tiếp thị tìm kiếm thị trường tiêu thụ và đối tượng cung cấp sản phẩm phụ trợ trong và ngoài nước, làm cầu nối giữa các doanh nghiệp. Việc cung cấp các thông tin chi tiết về ngành nghề, năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp và các định hướng khuyến khích đầu tư nhằm phát triển liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp tư nhân là rất quan trọng bởi điều này giúp các công ty xuyên quốc gia (TNC) có thể dễ dàng nhận dạng cơ hội đầu tư và phát hiện được các nhà cung cấp tiềm tàng ở nước chủ nhà.
Cần có các chính sách giảm chi phí và tăng phần bù đắp cho việc hình thành các liên kết cho cả các doanh nghiệp FDI và các công ty địa phương nhằm tạo ra và khuyến khích các liên kết làm tăng hiệu quả của sản xuất và góp phần vào việc phát tán các tri thức và kỹ năng từ các doanh nghiệp FDI tới các công ty địa phương. Chính phủ có thể đưa ra các ưu đãi như: miễn thuế cho các doanh nghiệp FDI hoặc cho phép các doanh nghiệp FDI được coi các chi phí liên quan tới việc hình thành liên kết là những chi phí được khấu trừ thuế. Mặt khác, cần đặc biệt lưu ý đến tính tương thích của các khuyến khích so sánh với Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (Hiệp định TRIM)
Củng cố và nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành nghề, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ làm đầu mối liên kết doanh nghiệp, đại diện cho ngành tìm kiếm, tiếp nhận tài trợ thực hiện các giải pháp phát triển ngành, đầu mối xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường, đề xuất các cơ chế chính sách phát triển CNPT.
Thường xuyên tổ chức và nâng cao tính chuyên nghiệp của các hội chợ, chợ công nghệ, triển lãm và các hội thảo chuyên đề phát triển CNPT cho từng lĩnh vực sản phẩm riêng biệt.

 

6.         Các giải pháp về tài chính
Tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV có thể dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn vay dài hạn cho đầu tư phát triển. Nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản để thành lập hệ thống ngân hàng phục vụ các DNNVV, cơ chế bảo lãnh tín dụng khi thu hồi thông qua các tài khoản phải thu và thế chấp các tài khoản phải thu khi vay vốn của các tổ chức tín dụng nhà nước.
Có hệ thống, cơ chế tài chính phù hợp hỗ trợ cho các hoạt động tăng cường năng lực công nghệ như các hoạt động khuyến công, hỗ trợ phát triển khoa học – công nghệ, hỗ trợ DNNVV trong việc đầu tư R-D sản xuất sản phẩm phụ trợ.
Phát triển mạnh cách thức thuê mua tài chính trong mua sắm máy móc, thiết bị, công nghệ cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phụ trợ để nâng cao khả năng phát triển và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp này.
Sử dụng vốn ODA để hỗ trợ đào tạo lao động, xây dựng thể chế pháp lý và các chương trình phát triển CNPT, công nghiệp vừa và nhỏ, chương trình hợp tác với các công ty đa quốc gia đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.
7.      Đề xuất của nhóm cho phát triển công nghiệp phụ trợ Việt Nam
–  Việt Nam không nên phân tán lực lượng mà phải tập trung phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ mũi nhọn mà mình có khả năng. Ví dụ: dệt may, giày dép… và lắp ráp như ôtô, xe máy, thiết bị điện và điện tử. Đối với các ngành Việt Nam chưa đủ điều kiện để phát triển thì nên thu hẹp quy mô hoặc chuyển đổi sang hoạt động ở ngành khác.
–  Người lao động: thường có tâm lí “đứng núi này trông núi nọ” nên các công ty cần có chính sách, chế độ lương bổng, đãi ngộ sao cho phù hợp với trình độ và năng lực của người lao động, quan tâm đến đời sống của người lao động nhiều hơn, hiểu được họ cần gì; thu hút nhân tài từ trong và ngoài nước, làm sao để người lao động làm việc cho công ty nhưng cảm giác như đang làm vì lợi ích của chính bản thân họ, nếu lơ là hoặc bỏ giữa chừng thì người thiệt hại đầu tiên là chính họ (thông qua các ràng buộc pháp lý, hợp đồng…).Yếu điểm của lao động Việt Nam là thầy nhiều hơn thợ: có sự phân loại và sàn lọc đối với người lao động. Vì khi trình độ ngang tầm với nhau thì sản phẩm tạo ra cũng sẽ có sự đồng đều trong chất lượng, nâng cao sức cạnh tranh của hàng trong nước đồng thời cũng là tạo ra sự cạnh tranh giữa những người lao động như vậy làm cho hiệu quả, năng suất lao động được nâng lên.
–   Chính phủ nên thể hiện sự quan tâm của mình đến công nghiệp phụ trợ nhiều hơn nữa thông qua hệ thống giám sát và kiểm tra, nắm bắt được tình hình phát triển và quá trình hoạt động của các công ty, doanh nghiệp để tránh những trường hợp phá sản, vỡ nợ gây ảnh hưởng xấu đến ngành công nghiệp phụ trợ nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung.
–  Có định hướng, biện pháp khuyến khích để gắn kết giữa của các ngành kinh tế khác với công nghiệp phụ trợ như vậy sẽ đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng nguyên liệu đầu vào từ đó cải thiện được chất lượng của sản phẩm đầu ra.

– Như chuyên gia Nhật Bản đã nhận xét, đánh giá thì hệ thống phân phối của ta còn quá kém, đó cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của ngành chính vì vậy các doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống phân phối chuyên nghiệp hơn, khắc phục tình trạng chậm trễ cũng như sai khác trong chất lượng sản phẩm so với đơn đặt hàng.