Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại ở Thành phố Đà Nẵng

1. Phải tạo môi trường kinh tế chính trị – xã hội ổn định để khuyến khích các nhà đầu tư vào lĩnh vực thương mại

Môi trường kinh tế  chính trị- xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh, nó tác động, chi phối đến môi trường tâm lý, môi trường luật pháp và môi trường kinh tế. Để tạo môi trường kinh tế chính trị – xã hội lành mạnh, thì Đảng và Nhà nước phải có chính sách nhất quán, cởi mở, Nhà nước phải bảo đảm quyền lợi chính đáng cho các doanh nghiệp và người lao động.

Trước hết, đó là nhân tố đường lối, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước phải được xác định chuẩn xác và phải được cụ thể hoá bằng chính sách  cô thể, những chính sách này phải được ổn định trong từng thời gian nhất định. Đại hội Đảng lần thứ IV đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra một bước ngoặt quyết định cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta, đó là: chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm giải phóng và phát huy được các tiềm năng sản xuất trong xã hội. Từ đó đến nay (Đại hội X)  Đảng ta đã có những bổ sung, làm rõ thêm quan niệm, một cách nhất quán, có bước tiến tích cực và chủ trương đường lối của Đảng đã được cụ thể hoá thành các văn bản pháp luật của Nhà nước, đó là cơ sở pháp lý cho sù ra đời của các doanh nghiệp ở khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời góp phần xây dựng doanh nghiệp đi đúng hướng và làm ăn có hiệu quả.

Đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng ta là nhất quán, đây chính là yếu tố có tính chất quyết định đến nội dung đổi mới kinh tế ở nước ta. Chính sách kinh tế nhiều thành phần là một bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển kinh tế -xã hội, là quan điểm chính trị của Đảng trong việc xây dựng phát triển kinh tế nhằm tạo ra cái “cốt vật chất” cho CNXH ở Việt Nam. Thủ tướng Võ Văn Kiệt, đa từng khẳng định “ Chính sách kinh tế nhiều thành phần  của Đảng và Nhà nước ta sẽ trở thành một yếu tố phục vụ đắc lực cho chiến lược đuổi bắt để rút ngắn khoảng cách tụt hậu”. Đường lối này phải được cụ thể hoá bằng hàng loạt các chính sách cụ thể, đồng bộ, đặc biệt là chính sách  với kinh tế tư nhân

Trong những năm qua, khu vực kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại của Việt Nam có vai trò quan trọng không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN ở nước ta, nó đã góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho người lao động, tăng ngân sách Nhà nước và vươn lên trưởng thành, đóng góp trên 30% GDP. Cần bổ xung hoàn thiện chính sách đối với kinh tế tư nhân nói chung và bộ phận kinh tế này nói riêng.

Thứ hai, Đảng và Nhà nước ta rất chú ý tạo ra sự ổn định về các mặt chính trị, xã hội, kinh tế để tạo môi trường đầu tư  thuận lợi, thu hót các nhà đầu tư  trong nước và ngoài nước. Đó là, chúng ta đảm bảo đường lối lãnh đạo trước sau như một của Đảng ta theo mục tiêu xây dựng nước ta trở thành một nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Việt Nam là bạn với tất cả các quốc gia, tôn trọng độc lập chủ quyền và quan hệ hai bên cùng có lợi. Từ đó chúng ta đẩy mạnh qua trình hội nhập, tôn trọng các quy định luật pháp và thông lệ quốc tế của các tổ chức kinh tế quốc tế (WO, ASEM, APEC). Đó là chúng ta hoàn chỉnh hệ thống đường lối chính sách pháp luật kinh tế cụ thể, rõ ràng để các đối tác thuận lợi khi vào đầu tư, đặc biệt đáng chú ý là đánh giá đúng và có nhiều quy định cụ thể cho kinh tế tư nhân phát triển.

Trong thời gian tới cần tăng cường thêm các biện pháp sau:

. Tăng cường đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền trong toàn xã hội về tầm quan trọng và tính hiệu quả của phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần, để xoá bỏ thành kiến đã ăn sâu đối với thành phần kinh tế này.

. Rà soát, xoá bỏ nhừng quy định trong chính sách không công bằng đối với kinh tế tư nhân.

. Trừng trị nghiêm khắc những cán bộ trong bộ máy Nhà nước gây phiền nhiễu, tiêu cực khi làm việc với các cơ sở kinh tế tư nhân.

2. Tăng cường quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại

 2.1 Về phía Nhà nước:

Trong những năm qua việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại ở thành phố Đà Nẵng chưa được quan tâm đúng mức, còn nhiều lúng túng, thiếu hoạch định cụ thể. Trong công tác quy hoạch xây dựng còn thiếu tầm nhìn và chưa đáp ứng mục tiêu ổn định lâu dài đặc biệt là quy hoạch các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, do đó các doanh nghiệp ở khu vực kinh tế tư nhân chủ yếu phát triển một cách tự phát (về ngành nghề và địa bàn đầu tư). Vì vậy thành phố cần phải xây dựng quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại, cụ thể là:

Căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế -xã hội của thành phố 5 năm (2005-2010) và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội thời kỳ 2005-2020, thành phố cần phải có quy hoạch định hướng phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại và có hướng dẫn, khuyến khích và tạo điều kiện để thương mại tư nhân phát triển đúng hướng. Cần quy hoạch phát triển ngành thương mại dịch vô,   có thể có hợp đồng giữa chính quyền thành phố với các doanh nghiệp được lùa chọn xây dựng, doanh nghiệp cam kết đạt các tiêu chí do thành phố đặt ra, đồng thời thành phố cam kết hỗ trợ của mình cho doanh nghiệp.

Để tạo môi trường phát triển cho kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại cần công bố công khai quy hoạch phát triển ngành nghề, nhóm sản phẩm chủ lực để doanh nghiệp biết và tổ chức sản xuất kinh doanh theo đúng quy hoạch; về cơ chế đầu tư, chuẩn bị cơ sở  vật chất, nơi làm việc và nơi ở để thu hót các chuyên gia giỏi đầu ngành, thợ bậc cao (kể cả điều kiện sinh hoạt cho gia đình họ). Các ngành mòi nhọn cần được nhìn nhận một cách khách quan có hiệu quả trong điều kiện tự nhiên, trình độ khoa học công nghệ và cơ sở vật chất của Đà Nẵng có thể phát triển, tập trung chủ yếu ở các ngành như công nghệ tin học, bưu chính viễn thông, công nghệ sinh học, sản xuất sản phẩm xuất khẩu vv…Việc cần làm ngay là quy hoạch chi tiết và công khai quy hoạch ngành thương mại; quy hoạch các cụm, các chợ, trung tâm thương mại, khu công nghiệp nhỏ trên địa bàn thành phố và các chính sách ưu đãi cụ thể để phát triển, có như vậy ngành thương mại tư nhân mới có điều kiện phát triển.

2.2 Về phía doanh nghiệp:

Bên cạnh những quy hoach, định hướng phát triển từ phía Nhà nước, bản thân các doanh nghiệp cũng phải tự nỗ lực đổi mới và tự hoàn thiện cho phù hợp với sự phát triển. Để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh doanh, bảo đảm uy tín, thì doanh nghiệp cần phải xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp như:

Về sản phẩm: mỗi một sản phẩm phải có một chu kỳ sống nhất định, do vậy doanh nghiệp phải làm sao tính toán để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm như cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm. Muốn thực hiện được thì phải không ngừng đổi mới công nghệ.

Về giá bán: giá bán liên quan trực tiếp đến chất lượng và mẫu mã của sản phẩm, trong mỗi thời kỳ thì giá bán cũng có sự thay đổi cho phù hợp, do vậy doanh nghiệp phải đưa ra được giá bán phù hợp cho từng thời kỳ. Ngoài ra cũng cần phải có nhiều mức giá phù hợp với từng đối tượng khách hàng.

Về phân phối: Sản phẩm phải được phân phối qua hai kênh trực tiếp và gián tiếp, doanh nghiệp có thể sử dụng cả hai kênh nhưng tỉ lệ như thế nào thì tuỳ thuộc vào chi phí và mức độ thâm nhập thị trường của mỗi kênh.

Về tài chính: Cần có một chiến lược tài chính lâu dài, có độ chính xác cao, điều này sẽ làm cho doanh nghiệp chủ động trong việc huy động vốn.

Về lao động: Cần có chiến lược để thu hót lao động, đặc biệt là lao động có trình độ và tay nghề cao thông qua các chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội thăng tiến …

Về marketing: Để nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp cần phải xây dựng một chiến lược marketing phù hợp giúp cho sản phẩm và dịch vụ có thể đến được tay người tiêu dùng và kích thích người tiêu dùng mua hàng hoá của doanh nghiệp.

Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải chú trọng thực hiện các biện pháp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất kinh doanh

Như vậy, hoạt động trong kinh tế thị trường mỗi doanh nghiệp cần xây dựng một chiến lược kinh doanh riêng phù hợp với năng lực của mình, cần xác định rõ mục tiêu phát triển, căn cứ vào những chỉ số của doanh nghiệp để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và đưa ra những cách thức để thực hiện kế hoạch đã đề ra.

2.3. Hoàn thiện môi trường pháp lý, tạo môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại phát triển

 Hoàn thiện môi trường pháp lý:

Hệ thống pháp luật là công cụ quản lý quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân. Nó tạo ra khuôn khổ pháp lý để các chủ thể kinh tế hoạt động an toàn và cũng để họ tự điều chỉnh hành vi của mình trong hành lang pháp lý nhằm giảm thiểu những sự thua thiệt trong hoạt động kinh doanh.

Ở nước ta hiện nay, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn thiếu nhiều văn bản pháp luật như luật cạnh tranh, luật chống độc quyền, luật về hoạt động quảng cáo… Môi trường pháp luật chưa ổn định, sự thay đổi thường xuyên của các chính sách gây khó khăn cho doanh nghiệp khi lập kế hoạch sản xuất kinh doanh. Trong trường hợp có sự thay đổi cần phải có thông tin kịp thời cho doanh nghiệp để họ có thể thay đổi cho phù hợp, mọi sự thay đổi cần thiết phải theo xu hướng thuận lợi hơn, tốt hơn và không gây bị động cho người kinh doanh, xây dựng luật cần theo hướng đủ, cụ thể để thực hiện thống nhất. Nhà nước cần rà soát lại để có sự thống nhất giữa luật và các văn bản dưới luật nhằm tạo môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, tránh sự chồng chéo, cản trở giữa các văn bản, cần quy định cụ thể các ngành nghề phải có giấy phép, các ngành nghề kinh doanh có điều kiện để doanh nghiệp và người dân dễ thực hiện; đồng thời cần cụ thể hoá các văn bản pháp luật của Chính phủ có liên quan đến hoạt động thương mại nói chung trong đó có thương mại tư nhân.

Hàng năm các doanh nghiệp lớn cần được kiểm toán, cần thống nhất phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, kiểm tra, cơ quan quản lý nhà nước có chương trình thanh tra, kiểm tra định kỳ đối với doanh nghiệp và thông báo trước cho doanh nghiệp. Cơ quan bảo vệ pháp luật chỉ kiểm tra, thanh tra khi doanh nghiệp đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Các cơ quan thanh tra, kiểm tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm tra, thanh tra và phải bồi thường thiệt hại về những tổn thất gây ra cho cơ sở (nếu có).

Nhà nước cần tạo lòng tin vững chắc và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp ở khu vực tư nhân bỏ vốn ra kinh doanh, các doanh nghiệp làm ăn hợp pháp cần được khuyến khích và bảo hộ bằng pháp luật, chính sách, cơ chế. Họ phải được thật sự bình đẳng trong kinh doanh trước pháp luật và được tôn trọng trong xã hội.

Một thực tế ở nước ta là các cơ quan quyết định cấp giấy phép thành lập, cấp giấy phép kinh doanh lại không nắm vững tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Các quy định, thủ tục như cấp đất, xuất nhập khẩu, vay vốn ngân hàng, kinh doanh có điều kiện… cũng cần giảm bớt tối đa những phiền hà cho doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, tạo sự đễ dàng, thuận lợi cho các doanh nghiệp có nguyện vọng và có đủ điều kiện sản xuất kinh doanh.

Thành phố cần chủ động thay mặt khối doanh nghiệp giải quyết các vướng mắc không rõ ràng về văn bản pháp luật nhất là trong lĩnh vực thương mại tư nhân. Thực tế cho thấy, những tỉnh-thành thực sự thành công là các tỉnh –thành cùng hợp tác với doanh nghiệp tìm ra giải pháp trong một môi trường pháp lý chưa thực sự rõ ràng, khi các văn bản pháp lý còn mập mờ, điều mà rất phổ biến ở Việt Nam và chưa thể khắc phục được một cách nhanh chóng. Điều này hoàn toàn khác với thái độ thụ động buộc doanh nghiệp phải chờ văn bản hướng dẫn từ Trung ương, vốn vẫn diễn ra hàng ngày ở không Ýt các địa phương của ta. Thái độ thụ động trong một môi trường pháp lý thiếu chặt chẽ đã gây cho doanh nghiệp rất nhiều tốn kém về thời gian, tiền bạc và cơ hội kinh doanh. Chính quyền địa phương là cơ quan thi hành luật, nếu không thực hiện đúng tư tưởng của luật sẽ vô tình hay hữu ý tạo ra những rào cản làm nản chí không Ýt các nhà doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.

 Môi trường tâm lý xã hội: Để xây dựng môi trường tâm lý thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân, cần chú ý các vấn đề sau đây:

– Nhà nước cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền toàn xã hội về vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế trên mặt trận lưu thông hàng hoá, giáo dục cho mọi người dân hiểu được thương mại Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, cùng với kinh tế thương mại tư nhân và các thành phần kinh tế khác là những bộ phận quan trọng trong cấu thành ngành thương mại Việt Nam, để tạo môi trường tâm lý xã hội thuận lợi,  hình thành thái độ đối xử bình đẳng của xã hội đối với các thành phần kinh tế. Nhà nước cần phải tuyên truyền trong dân để họ hiểu được đúng đắn về vị trí, vai trò của khu vực tư nhân góp phần tạo cho họ có một cái nhìn đúng đắn hơn về khu vực kinh tế này. Để thực hiện được như vậy trước hết cần phải: + xoá bỏ những kỳ thị, những phân biệt đối xử với khu vực tư nhân để nó thực sự phát triển theo đúng tiềm năng vốn có; + tuyên truyền cho mọi người thấy vai trò của doanh nhân, phải hiểu được bản chất của những doanh nhân trong cơ chế thị trường. Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp chưa thực sự có một tầng líp doanh nhân theo đúng nghĩa, nên những doanh nhân thuộc khu vực tư nhân  bị coi là bóc lột giống như tư bản và cần phải xoá bỏ. Trong cơ chế thị trường, vai trò của doanh nhân rất quan trọng. Họ là những người bỏ vốn, thuê lao động, sử dụng các yếu tố sản xuất để tiến hành sản xuất nhằm tạo ra lợi nhuận lớn nhất, đóng góp ngân sách và tự chịu mọi rủi ro. Do vậy, doanh nhân là những chiến sĩ xung kích trên mặt trận kinh tế, họ cần phải được tôn trọng và phải có chính sách  tạo điều kiện cho họ phát triển sản xuất kinh doanh.

– Nhà nước cần có sự thống nhất trong nhận thức về tiêu chuẩn, cụ thể hoá các quy định của Đảng để áp áp dụng trong thực tế, chẳng hạn thế nào là bóc lột, thế nào là doanh nghiệp được coi là tư bản tư nhân… Đồng thời có hình thức tôn vinh những người biết làm giàu một cách chính đáng, làm giàu cho bản thân mình và cho xã hội, nhất là những người sản xuất giỏi, có nhiều sáng kiến, nhiều kinh nghiệm và có nhiều đóng góp cho xã hội.

Để làm việc này, thành phố cũng cần xây dựng quy chế thường xuyên, định kỳ tuyên dương khen thưởng công bằng đối với những doanh nhân, người lao động giỏi trong khu vực kinh tế tư nhân đã có nhiều đóng góp cho thành phố; xây dựng tiêu chí khen thưởng, tôn vinh những doanh nhân làm ăn giỏi.

– Chó trọng xây dựng tổ chức Đảng và tổ chức Đoàn, đẩy mạnh công tác kết nạp đảng viên, Đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đoàn viên Công đoàn trong các doanh nghiệp ở khu vực kinh tế tư nhân, để cho mọi người nhận thức rằng người lao động dù làm việc ở loại hình doanh nghiệp nào nếu phấn đấu tốt, có nhiều cống hiến cho xã hội, phẩm chất đạo đức tốt đều được đánh giá như nhau, tạo tâm lý phấn khởi và gắn bó với doanh nghiệp của người lao động, từ đó tạo thuận lợi cho việc thu hót lao động để phát triển doanh nghiệp ở khu vực kinh tế tư nhân.

 Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh – đối xử bình đẳng:

Các chủ trương, cơ chế chính sách giải pháp của thành phố phải đáp ứng yêu cầu: đảm bảo các doanh nghiệp thương mại tư nhân được đối xử bình đẳng trong đầu tư, tín dụng, thuê đất, xây dựng giải pháp thị trường, định giá tài sản, đánh giá tín nhiệm. Định kỳ tổ chức, đối thoại giữa doanh nghiệp với cơ quan chức năng theo các chủ đề vướng mắc. Các cơ chế chính sách của thành phố trước khi ban hành cần tham khảo ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp thông qua các hiệp hội, câu lạc bộ.. khi đã ban hành cần phải tổ chức phổ biến rộng rãi và hướng dẫn thi hành đến các cấp, các ngành, các hiệp hội và doanh nghiệp.

Sửa đổi bổ sung các cơ chế chính sách ưu đãi giữa doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước ngoài theo hướng: các doanh nghiệp đều bình đẳng và nếu doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực, ngành nghề, khu vực khuyến khích đều được hưởng quyền lợi như nhau, đảm bảo cho doanh nghiệp thương mại tư nhân được đối xử bình đẳng và cạnh tranh công bằng, lành mạnh.

Tăng cường hiệu quả và tính minh bạch đối với các dịch vụ hành chính, giảm chi phí các dịch vụ công Ých, thực thi pháp luật công bằng và nghiêm minh trên địa bàn thành phố, bãi bỏ các quy định không bình đẳng, hạn chế hoặc gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp thương mại tư nhân .

2.4. Tạo môi trường kinh tế thuận lợi cho kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại phát triển

2.4.1.  Cải cách thủ tục hành chính

Về cải cách hành chính: Thực hiện có hiệu quả mô hình “một cửa” trong các lĩnh vực đăng ký kinh doanh, xét cấp ưu đãi đầu tư, cấp mã số thuế, mã số hải quan, giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiên kinh doanh, đặc biệt là thống nhất trình tự “một cửa” từ chủ trương chấp thuận đầu tư –  hợp đồng thuê đất – giao đất, cấp chứng chỉ quy hoạch và giấy phép xây dựng (hiện nay đang là khâu yếu nhất). Các quy định cần rõ ràng, Ýt thay đổi, thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại công sở, không tạo kẽ hở để các cơ quan chức năng gây khó dễ cho doanh nghiệp, hạn chế tình trạng cùng một vấn đề các cơ quan chức năng hiểu và xử lý khác nhau gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Tăng cường cán bộ cho bộ phận đăng ký kinh doanh. Môi trường pháp lý thông thoáng phụ thuộc rất nhiều vào đội ngò cán bộ đại diện cho các cơ quan công quyền quan hệ trực tiếp với doanh nghiệp, do đó cần phải đào tạo cán bộ theo hướng chuyện nghiệp. Trước mắt, bổ sung cán bộ đủ năng lực và trình độ, thạo việc và am hiểu công việc, tăng cường cán bộ cho bộ phận tiếp dân “một cửa”. Có chế tài xử lý nghiêm minh đối với những hành vi sách nhiễu của cán bộ công chức trực tiếp làm việc với các doanh nghiệp, chống thái độ thờ ơ, “vô cảm” trước những khó khăn, bức xúc của doanh nghiệp.

Về đăng ký kinh doanh: Đơn giản hoá các thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian đăng ký kinh doanh, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.  Tiếp tục mở rộng các hình thức đăng ký kinh doanh qua mạng internet tạo điều kiện giảm thiểu các chi phí gia nhập thị trường cho các chủ doanh nghiệp, đồng thời từng bước hiện đại hoá cơ quan đăng ký kinh doanh, đủ điều kiện trở thành cơ quan thông tin đầy đủ cho cả doanh nghiệp  và các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý. Củng cố kiện toàn cơ quan đăng ký kinh doanh ở các quận, huyện để thành một hệ thống “thống nhất” quan hệ chặt chẽ từ Phòng Đăng kí kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và Đầu tư đến cơ quan đăng ký kinh doanh các quận, huyện. Hỗ trợ để nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác đăng ký kinh doanh các quận, huyện, cung cấp kịp thời thông tin quy định về đăng ký kinh doanh, phối hợp công tác quản lý doanh nghiệp  sau đăng ký kinh doanh.

Đăng kí mã số thuế, mã số hải quan, khắc dấu: Nên nghiên cứu ban hành quy định mỗi doanh nghiệp chỉ nên có 1 mã số duy nhất của doanh nghiệp (gồm mã số thuế, đăng ký kinh doanh, mã số hải quan ) coi đó là chứng minh nhân dân của doanh nghiệp. Trong khi chờ đợi  quy định chung của cả nước, trước mắt thành phố cần cải cách dần thủ tục theo hướng sau:

Sau khi được cấp đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải xuất trình giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để khắc dấu (Công an thành phố), vành ngoài con dấu bỏ tên quận, huyện chỉ ghi số đăng ký kinh doanh và tên thành phố Đà Nẵng. Cùng lúc đó doanh nghiệp dùng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đến cơ quan thuế làm tờ khai đăng kí mã số thuế mà không nhất thiết phải đóng dấu. Khi đến lấy mã số thuế mang theo giấy giới thiệu có đóng dấu của doanh nghiệp để cơ quan thuế lưu vào hồ sơ. Trong khi chờ mã số thuế, doanh nghiệp vẫn có thể xuất trình giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và phiếu nhận hồ sơ làm mã số thuế để mua hoá đơn. Theo cách này hoàn toàn có thể rút ngắn một nửa thời gian hoàn thành thủ tục pháp lý để khởi động kinh doanh so với quy định (hiện nay thời gian quy định hoàn thành các thủ tục trên là 20 ngày) và khi doanh nghiệp chuyển trụ sở sang quận, huyện khác không cần đổi con dấu.

Về vấn đề hậu kiểm: Phân cấp quản lý hành chính nhà nước cho UBND các quận, huyện đối với các doanh nghiệp là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn quy đóng trên địa bàn, các công ty cổ phần thì UBND thành phố quản lý;  phân công rõ hơn nhiệm vụ của sở, ngành trong công tác hậu kiểm doanh nghiệp. Các cơ sở ban ngành căn cứ chức năng quản lý nhà nước của mình sẽ tăng cường kiểm tra tình hình chấp hành các điều kiện kinh doanh và hoạt động của doanh nghiệp, xử lý nghiêm khắc các doanh nghiệp vi phạm. Sở Kế hoạch-Đầu tư thành phố và UBND các quận huyện không cấp giấy đăng ký kinh doanh các ngành nghề tại địa điểm đã xử lý thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép kinh doanh các ngành nghề vi phạm hoặc yêu cầu tạm dừng hoạt động trong thời hạn từ sáu tháng đến một năm kể từ ngày vi phạm. Thường xuyên kiểm tra đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các chế độ báo cáo thống kê và các quy định của pháp luật.

2.4.2.  Hỗ trợ tìm kiếm thị trường

Thị trường là môi trường sống còn của các doanh nghiệp nói chung, trong đó có doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta kỹ thuật và công nghệ của các doanh nghiệp còn lạc hậu, chất lượng sản phẩm còn kém sức cạch tranh, thì việc bảo hộ, tìm kiếm thị trường giúp doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại tiêu thụ sản phẩm là điều vô cùng cần thiết.

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, để làm được việc này cần có sự hỗ trợ và phối hợp từ Trung ương đến địa phương. ở Trung ương, chính sách thị trường cần phải được Nhà nước, các cấp-Bộ-Ngành, phòng Công nghiệp và thương mại Việt Nam, các hiệp hội cùng quan tâm để giúp đỡ các doanh nghiệp ở khu vực kinh tế tư nhân tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Các cơ quan chức năng của thành phố Đà Nẵng cần tổ chức tốt việc thông tin, dự báo, tư vấn về thị trường trong và ngoài nước; về cung cầu hàng hoá, thông báo quy hoạch và kế hoạch phát triển sản phẩm; các chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho các doanh nghiệp thương mại tư nhân. Bên cạnh đó cần có biện pháp chống hàng lậu, hàng giả, quản lý và tổ chức tốt thị trường trong thành phố, có chính sách bảo hộ một số hàng cần thiết của địa phương.

Để mở rộng thị trường phải tích cực tiếp cận thị trường, như mở các đại diện – chi nhánh ở nước ngoài cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp (hiện nay thành phố đã có đại diện Văn phòng ở Nhật); đồng thời nghiên cứu, thăm dò, điều tra nhu cầu một cách khoa học và có sự hiểu biết về tâm lý, sở thích của người tiêu dùng, có các phương thức mua bán linh hoạt và các biện pháp thu hót chủ đầu tư cũng như khách hàng làm ăn gắn bó với doanh nghiệp thương mại cùng như gắn bó với địa phương. Song song với việc tìm kiếm thị trường các doanh nghiệp thương mại tư nhân cần có giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, kiểu dáng, đa dạng hoá về chủng loại, xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, phát triển hệ thống kênh phân phối sản phẩm…

 Phát triển đồng bộ các loại thị trường: Để quá trình hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế trong lĩnh vực thương mại diễn ra một cách bình thường thì nhiều quan hệ kinh tế phải thực hiện ở các thị trường, như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm vv…Vì các thị trường này sẽ cung cấp những yếu tố quan trọng cho hoạt động kinh doanh thương mại.                     

 Thị trường vốn: Khuyến khích, tạo điều kiện để các nhà đầu tư, các doanh nghiệp thương mại tư nhân góp vốn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần có trụ sở tại Đà Nẵng – “Ngân hàng mang thương hiệu Đà Nẵng”; thành phố hỗ trợ về mặt bằng xây dựng trụ sở, thu hót nguồn nhân lực. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng ở thành phè  Hồ Chí Minh và Hà Nội đặt chi nhánh tại Đà Nẵng (tạo điều kiện cho thuê đất, thuê mặt bằng hoặc chuyển quyền sử dụng đất để các ngân hàng xây dựng trụ sở hoạt động). Từng bước hình thành thị trường chứng khoán, trước mắt nghiên cứu đề án thành lập công ty chứng khoán của Đà Nẵng.

 Thị trường bất động sản: Xây dựng và hoàn chỉnh thị trường đất đai, kể cả trong khu công nghiệp, ban hành các quy định hiện hành về đất đai cần phải đổi mới để theo kịp yêu cầu thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp thương mại tư nhân. Doanh nghiệp phải được công nhận giá trị sang nhượng “Quyền sử dụng đất” thực chất là “mua bán đất đai”, công nhận giá trị tài sản trên đất mà doanh nghiệp thương mại tư nhân  đầu tư để được hạch toán khấu hao tài sản cố định hằng năm và được thế chấp vay vốn tại Ngân hàng. Phát huy vai trò của trung tâm giao dịch bất động sản của thành phố.

 Thị trường khoa học công nghệ: Tăng cường các hoạt động khoa học công nghệ hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất kinh doanh. Tăng cường phân bố vốn nghiên cứu khoa học công nghệ cho các đề tài phục vụ doanh nghiệp thương mại tư nhân.  Hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp thương mại tư nhân nghiên cứu đề tài khoa học và áp dụng các đề tài cấp thành phố vào sản xuất, khen thưởng xứng đáng những đề tài, công trình, tác phẩm có hiệu quả thiết thực. Khuyến khích hỗ trợ các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu các đề tài khoa học do doanh nghiệp thương mại tư nhân đặt hàng. Thành lập quỹ khoa học công nghệ thành phố kết hợp nguồn tín dụng ưu đãi để đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ

Thị trường lao động: Thành phố cần chú trọng đến việc khuyến khích, hỗ trợ cho lao động đang làm việc trong doanh nghiệp thương mại tư nhân để chủ doanh nghiệp vượt qua được rào cản tâm lý cho rằng việc làm trong lĩnh vực tư nhân chỉ là giải pháp cuối cùng. Hỗ trợ doanh nghiệp thương mại tư nhân đào tạo và đào tạo lại để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Khuyến khích đào tạo nghề theo đơn đặt hàng cho doanh nghiệp  (kể cả miễn phí và thu phí). Tổ chức nhiều các hội chợ việc làm trong năm để có thị trường lao động dồi dào cho doanh nghiệp thương mại tư nhân có cơ hội tiếp cận. Các trung tâm đào tạo phải đảm bảo chất lượng đào tạo để doanh nghiệp có thể sử dụng lao động với hiệu quả cao ngay khi tuyển dụng. Động viên, kiểm tra các chủ doanh nghiệp thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội với người lao động để người lao động yên tâm làm việc ở các doanh nghiệp.

2.4.3.  Hỗ trợ thương mại tư nhân về kết cấu hạ tầng kinh tế

Để tháo gỡ những khó khăn về mặt bằng sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp thương mại tư nhân, Nhà nước cần có một số giải pháp sau: Sửa đổi các quy định về đất ở đã được cấp quyền sử dụng đất, đất đang làm mặt bằng sản xuất kinh doanh hoặc đất doanh nghiệp mua lại bằng quyền sử dụng đất đều đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cho phép các doanh nghiệp thương mại tư nhân không phân biệt thành phần kinh tế có thể góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Thu hồi những diện tích đất sử dụng sai mục đích hay bá hoang để các doanh nghiệp có thể thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh

Thành phố Đà Nẵng đảm bảo đủ mặt bằng hợp lý cho phát triển sản xuất theo quy hoạch. Công tác quy hoạch sử dụng đất đòi hỏi chính quyền thành phố phải thực hiện nghiêm túc và khẩn trương công bố quy hoạch đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, công bố những quỹ đất chưa sử dụng để doanh nghiệp có nhu cầu thuê đăng ký thuê. Có chính sách miễn giảm tiền thuê đất theo hướng ưu tiên mạnh cho phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, du lịch và dịch vụ; miễn giảm thuế chuyển quyền sử dụng đất từ 20-30% cho các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật. Ngân sách thành phố nên đầu tư ưu tiên hơn nữa vào xây dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp để có diện tích cho doanh nghiệp thương mại tư nhân phát triển sản xuất. Ngân sách thành phố hỗ trợ 50% chi phí san lấp mặt bằng, nhưng không quá 500 triệu đồng đối với dự án có vốn từ 20-30 tỉ đồng; không quá một tỉ đồng đối với dự án có vốn trên 30 tỉ đồng. Các doanh nghiệp không phân biệt thành phần, khi di dời địa điểm sản xuất kinh doanh theo chủ trương của thành phố, ngoài việc được bồi thường và các chế độ hỗ trợ khác theo quy định của UBND thành phố còn được hỗ trợ 50% phần tiền khai thác được từ quỹ đất (nếu có) tại địa điểm bàn giao cho thành phố theo giá sử dụng đất nguyên trạng để bổ sung đầu tư tại địa điểm mới (hiện nay thành phố mới chỉ thực hiện cho các doanh nghiệp nhà nước).

Triển khai thí điểm việc giao quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dông           TriÓn khai thÝ ®iÓm viÖc giao quyÒn sö dông ®Êt, cÊp giÊy chøng nhËn quyÒn sö dông đất và tài sản trên đất cho doanh nghiệp thương mại tư nhân để doanh nghiệp có cơ sở thế chấp vay vốn. Đồng thời cho phép doanh nghiệp góp vốn liên doanh với nước ngoài dưới dạng giá trị quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất dài hạn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho họ tham gia liên doanh này.

Về hệ thống chợ

Ở Đà Nẵng hiện nay, hệ thống chợ vẫn đang là mạng lưới bán lẻ truyền thống những hàng hóa phục vụ nhu cầu thường ngày của người dân. Với mức thu nhập chưa cao so với nhu cầu tiêu dùng thì có tới 80% số lượng hàng hóa tiêu dùng đuợc người dân mua sắm ở các chợ. Tuy nhiên, hệ thống chợ trên địa bàn còn khá lộn xộn, vẫn còn hiện tượng phát triển tự phát các chợ cóc, chợ vỉa hè gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng đến mỹ quan đường phố. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng hệ thống chợ vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng kinh doanh của các hộ các thể, doanh nghiệp ở khu vực tư nhân trong lĩnh vực thương mại. Vì vậy, thành phố cần có giải pháp cụ thể để xây dựng hệ thống chợ với cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo cho thương mại tư nhân thực hiện phương thức kinh doanh văn minh, hiện đại và thuận tiện cho việc mua sắm của người dân. Cụ thể:

                Một là: Quy hoạch chi tiết mạng lưới chợ của thành phố.

Chợ là nơi tập trung buôn bán chủ yếu của các hộ thương mại tư nhân, để đưa hoạt động của thương mại tư nhân vào nề nếp, tránh tình trạng kinh doanh lấn chiếm vỉa hè cần cải tạo, nâng cấp các chợ hiện có và xây dựng một số chợ mới. Việc quy hoạch mạng lưới chợ cần chú ý bảo đảm điều kiện về mặt bằng cho các hộ kinh doanh. Khi xây dựng chợ cần chú ý gắn với mật độ và quy mô các loại chợ, phải căn cứ vào quy mô dân số hiện tại và xu hướng tăng trong tương lai, bởi đó là yếu tố quyết định đến nhu cầu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Cần triển khai nhanh việc quy hoạch tổng thể phát triển chợ các loại. Trong xây dựng và phát triển chợ cần có quan điểm dài hạn và toàn diện về công năng của từng loại chợ, tránh tình trạng nơi cần thì không xây mà bố trí ở nơi không thuận tiện, chợ xây xong thì bỏ trống, lãng phí cho ngân sách thành phố.

Hai là: Cần nghiên cứu xây dựng mô hình chợ chuyên doanh phát luồng bán buôn, chợ đêm, chợ bán lẻ để đồng thời đáp ứng được nhu cầu của người kinh doanh và người tiêu dùng.

Chợ chuyên doanh phát luồng bán buôn nên xây dựng ở nơi gần nguồn hàng hoặc trung tâm đầu mối giao thông để giảm chi phí vận chuyển, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa.  Chẳng hạn, xây dựng các chợ bán buôn hàng nông sản, thực phẩm ở các cửa ngõ thành phố giáp với các huyện hoặc các tỉnh lân cận, hoặc các chợ bán buôn hàng công nghệ phẩm xây dựng ở các khu công nghiệp tập trung, đây sẽ là hệ thống cung cấp nguồn hàng chủ yếu cho hệ thống bán lẻ các chợ. Chợ bán lẻ, thường là bán các sản phẩm hàng hóa phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân, nên hướng xây dựng chợ là bám sát các tụ điểm dân cư tập trung, nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho xã hội. Đà Nẵng có lưu lượng khách du lịch tăng bình quân hàng năm từ 15 đến 20% thì nhu cầu mua sắm của khách du lịch cũng như của người dân nội thành vào ban đêm là tương đối lớn nên cần tổ chức xây dựng chợ đêm ở khu trung tâm các quận.

Ba là: Cần kiên quyết xóa bỏ các chợ tạm, chợ cóc, bán hàng rong để lập lại trật tự kỷ cương trong kinh doanh, nhằm từng bước đưa thương mại tư nhân vào hoạt động kinh doanh theo hướng văn minh thương mại.

Về hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại

Trung tâm thương mại và siêu thị là những hình thức tổ chức kinh doanh đáp ứng được các yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thương mại Đà Nẵng. Theo xu hướng phát triển thương mại, các hình thức kinh doanh này sẽ ngày càng phát triển với quy mô lớn, kinh doanh đa dạng và linh hoạt các loại hàng hóa, dịch vụ. Có thể thấy rằng nó là hệ thống bán hàng có những ưu điểm hơn hẳn so với hệ thống bán lẻ truyền thống, vì đây là nơi mua hàng thuận tiện, tiết kiệm được thời gian và yên tâm về chất lượng hàng hóa cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, siêu thị ra đời đã gặp không Ýt những đối thủ cạnh tranh quyết liệt, trong đó phải kể đến hệ thống chợ, hệ thống các cửa hàng tự chọn.

                Với dân số gần 800.000 người và quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng thì phát triển các siêu thị ở Đà Nẵng là phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại. Xu hướng này có ảnh hưởng đến quá trình và phân bố lại mạng lưới thương mại trên địa bàn, để Đà Nẵng xây dựng được hệ thống siêu thị văn minh hiện đại, hiệu quả cần thực hiện các vấn đề sau:

Còng như cả nước, mô hình siêu thị trong tương lai của Đà Nẵng sẽ phát triển theo xu hướng kế thừa những gì mà lịch sử phát triển siêu thị trên thế giới để lại. Do vậy, khi xây dựng siêu thị cần chú ý xác định quy mô của siêu thị về diện tích và số lượng mặt hàng kinh doanh phù hợp với phân bố các khu dân cư. Cần chú ý đến việc xây dựng siêu thị gắn với các trung tâm thương mại, các khu vui chơi giải trí để đáp ứng được nhu cầu mua sắm và tham quan của người dân.

Đà Nẵng đang trong quá trình đô thị hóa nhanh, mức sống của người dân ngoại thành ngày càng được nâng lên, vì vậy cần quy hoạch xây dựng hệ thống siêu thị phát triển ra các khu đô thị mới, trung tâm huyện ngoại thành nhằm giảm giá thuê đất kinh doanh và do đó giảm được giá bán hàng hóa, nâng cao sức cạnh tranh của siêu thị mà “Metro” là một ví dụ điển hình.

Song song với các loại hình siêu thị, Đà Nẵng cần phải xây dựng các trung tâm thương mại quốc tế ngang tầm với các nước trong khu vực, cung cấp các dịch vụ chất lượng cao theo các hạng mục tiêu chuẩn bao gồm: văn phòng cho thuê, trung tâm thông tin thương mại, trung tâm hội chợ và triển lãm, trung tâm giao dịch và bán buôn hàng hóa, cửa hàng và siêu thị … Việc xây dựng các trung tâm thương mại này phải gắn với xây dựng các chuỗi siêu thị xung quanh và phải xác định vị trí xây dựng phù hợp quy hoạch tổng thể phát triển thương mại Đà Nẵng  đến năm 2020.

Tổ chức tốt các kênh huy động vốn để xây dựng, có thể thực hiện theo phương thức liên doanh, liên kết với các công ty nước ngoài, các doanh nghiệp nhà nước hoặc huy động vốn của doanh nghiệp khu vực tư nhân trong lĩnh vực thương mại để xây dựng và sau đó cho họ thuê lại diện tích kinh doanh với giá ưu đãi.

Ngoài ra, để hỗ trợ các doanh nghiệp khu vực tư nhân trong lĩnh vực thương mại kinh doanh thì thành phố cần chú ý xây dựng hệ thống kho bãi, hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc tạo điều kiện cho họ có thể áp dụng được các hình thức kinh doanh hiện đại. Đây là giải pháp tạo môi trường kinh tế có tính đồng bộ, từng bước đưa doanh nghiệp khu vực tư nhân trong lĩnh vực thương mại vào các khu kinh doanh tập trung, đồng thời mở rộng khả năng khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường.

2.4.4. Mở rộng các hình thức liên kết của thương mại tư nhân

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, liên kết kinh tế để tồn tại và phát triển là xu hướng khách quan nhằm tăng khả năng cạnh tranh và ứng dụng khoa học công nghệ trong kinh doanh. Trong xu thế đó và với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, doanh nghiệp khu vực tư nhân trong lĩnh vực thương mại có thể căn cứ vào đặc điểm của mình mà phát triển theo các hình thức liên kết, hợp tác sau:

Thứ nhất, liên kết giữa các hộ kinh doanh cá thể với nhau theo ngành hàng để tiến tới thành lập các hiệp hội trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi giữa các hội viên, nhằm tạo điều kiện giúp đỡ hội viên phát triển kinh doanh và không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trong quá trình kinh doanh của họ. Đối với thương mại tư nhân phải tạo lòng tin cho nhau, tiến tới có thể liên kết với nhau để hình thành nên các công ty thương mại tư nhân có quy mô lớn đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Hoặc có thể liên kết giữa hộ kinh doanh với doanh nghiệp thương mại tư nhân theo các hình thức khác nhau.

Thứ hai, liên  kết giữa doanh nghiệp thương mại tư nhân với các nhà sản xuất trong và ngoài nước thông qua các hình thức như: hợp đồng tiêu thụ hàng hóa, đại lý hoặc đầu tư, ứng trước vốn cho các cơ sở sản xuất nhằm tạo nguồn hàng ổn định, chất lượng và giá rẻ do không phải qua nhiều kênh phân phối trung gian.

Thứ ba, Nhà nước cần định hướng và phát triển mạnh hình thức liên kết giữa doanh nghiệp thương mại tư nhân với doanh nghiệp thương mại Nhà nước dưới hình thức làm đại lý, mua cổ phần, hoặc là các công ty thành viên trong các tập đoàn thương mại, hay công ty con trong mô hình công ty mẹ – công ty con mà ở đó doanh nghiệp thương mại Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối về vốn, công nghệ … Hình thức liên kết này phát triển sẽ là nhân tố quyết định đảm bảo thương mại tư nhân hoạt động kinh doanh theo đúng định hướng XHCN.

Trong những hình thức liên kết trên phải chú ý đến khả năng nâng cao sức mạnh của doanh nghiệp thương mại tư nhân , giúp họ có nguồn lực phát triển và vị thế ổn định trên thị trường. Song mục tiêu của doanh nghiệp thương mại tư nhân là lợi nhuận nên dễ bị phá vỡ trong các liên kết kinh tế đó. Vì vậy, để đảm bảo các quan hệ liên kết kinh tế được bền vững, có hiệu quả thì trong hoạt động kinh doanh phải đảm bảo hài hòa Ých lợi giữa các bên tham gia liên kết.

Bên cạnh đó, trong các hình thức liên kết cần phát triển mạnh các hình thức kinh doanh thương mại theo hướng văn minh, hiện đại như: bán hàng trả góp, bán hàng qua điện thoại, bán hàng tự động, thương mại điện tử … chó trọng phát triển các hình thức gia công, chế biến nhằm gia tăng giá trị sản phẩm. Đồng thời, khuyến khích doanh nghiệp thương mại tư nhân phát triển kinh doanh trong các ngành, các lĩnh vực mà pháp luật không cấm, hoặc ở những khâu, những lĩnh vực mà không cần hoặc thương mại Nhà nước kinh doanh không có hiệu quả nhằm phát huy lợi thế của thương mại tư nhân.  Đó cũng là những điều kiện đảm bảo cho doanh nghiệp thương mại tư nhân kinh doanh có lợi nhuận cao, chủ động tích lũy vốn đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh.

2.4.5. Hỗ trợ về thông tin, xúc tiến thương mại, xuất khẩu và khoa học- công nghệ mới

Hỗ trợ về thông tin: Thực tế cho thấy, chất lượng thông tin thu thập được của thương mại tư nhân không cao, đặc biệt là những thông tin về thị trường.  Do vậy, để giúp khu vực này nâng cao được chất lượng nguồn thông tin, thành phố có thể lập một cơ quan chuyên trách cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp; xây dựng trung tâm hội trợ triển làm quốc tế; thành lập các trung tâm thông tin thị trường, giá cả, mở rộng các loại hình trung tâm giới thiệu sản phẩm, công nghệ; những thông tin này phải mới, cung cấp kịp thời cho doanh nghiệp,  cần công bố rộng rãi thông tin các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, các dự báo trung và dài hạn, các dự án phát triển vv…để doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược phát triển trong tương lai một cách chính xác. Giảm chi phí sử dụng dịch vụ thông tin như cước điện thoại, cước truy cập Internet… Nâng cao kiến thức về công nghệ thông tin cho mọi ngừời lao động trong doanh nghiệp như phổ cập tin học, phát triển thương mại điện tử. Nên đầu tư hoàn thiện và cấp nhật thường xuyên, mang tính chuyên nghiệp hơn nữa trang Web điện tử của thành phố và các sở, ban, ngành để quảng bá (miễn phí) thu hót đầu tư và cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp thương mại tư nhân.

- Hỗ trợ về xúc tiến thương mại: Thành phố Đà Nẵng cần hỗ trợ cho doanh nghiệp thương mại tư nhân trong việc tìm kiếm thị trường, bao gồm thị trường trong nước và ngoài nước:

Đối với thị trường trong nuớc: Hỗ trợ cho doanh nghiệp tham gia chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm của thành phố, như hỗ trợ kinh phí thuê gian hàng hội trợ triển lãm, mức hỗ trợ không quá 10 triệu đồng/ năm với số lần tham gia hội chợ không dưới 3 lần; hỗ trợ chi phí tiền thuê trụ sở trong một năm đầu khi mở đại diện văn phòng-chi nhánh, hoặc cửa hàng ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành khác; hỗ trợ chi phí quảng cáo 3 lần/năm đối với các sản phẩm chủ lực sản xuất tại Đà Nẵng, khi sản phẩm hàng hoá đó của doanh nghiệp tiêu thụ ở địa phương khác đạt 10 tỉ đồng/doanh thu của doanh nghiệp.

Đối với thị trường nuớc ngoài: Cần giao nhiệm vụ và hỗ trợ kinh phí để Sở Ngoại vụ thông qua con đường ngoại giao, tiếp các đoàn khách nước ngoài và sứ quán Việt Nam ở nước ngoài (tuỳ viên kinh tế và tham tán thương mại) để thực hiện chức năng hỗ trợ thông tin thị trường cho các doanh nghiệp thương mại tư nhân. Đồng thời hỗ trợ hoạt động xúc tiến thương mại ở nước ngoài, cần tập trung những mặt hàng được thành phố công nhận là sản phẩm chủ lực và những chương trình xúc tiến thương mại của thành phố. Khai thác các văn phòng đại diện, chi nhánh công ty nước ngoài tại Đà Nẵng và coi đây là một kênh xúc tiến thương mại quan trọng, tránh được nhiều rủi ro, giảm chi phí xúc tiến xuất khẩu ở nước ngoài.

Hỗ trợ xuất khẩu: Thành phố cần tăng cường các hoạt động hỗ trợ xuất khẩu như hỗ trợ tín dụng, cung cấp thông tin, hướng dẫn cho các doanh nghiệp thương mại tư nhân về quy cách, thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá. Nhà nước cần thực hiện đấu thầu Quota công khai sẽ hạn chế được hiện tượng móc ngoặc, tham nhòng và các hành vi trục lợi của một số quan chức và sẽ tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đồng thời tránh được hiện tượng mua bán Quota, gây trở ngại cho các doanh nghiệp thương mại tư nhân trong hoạt động xuất nhập khẩu. Ngoài ra, cũng cần phải có chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp thương mại tư nhân đang hoạt động hiệu quả, có đủ lực canh tranh trên thị trường quốc tế, nhưng do một số nguyên nhân họ chưa thâm nhập được, nếu không hạn ngạch sẽ rơi vào các tổng công ty lớn, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay khi Việt Nam chưa có Luật Cạnh tranh.

Hỗ trợ khoa học- công nghệ mới: Hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại tư nhân đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, nhập khẩu công nghệ mới và bằng sáng chế phát minh. Tổ chức hội chợ công nghệ để các nhà khoa học và doanh nghiệp gặp gỡ, bàn bạc, mua bán công nghệ mới. Mở rộng nghiên cứu triển khai, gắn trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp; đào tạo những nhà quản lý, cán bộ đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ. Cần ban hành bổ sung quy định của Chính phủ về sở hữu trí tuệ, bảo hộ bí mật kinh doanh. Hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Khen thưởng xứng đáng doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế có sản phẩm chất lượng cao, áp dụng có hiệu quả công nghệ tiên tiến

Thành phố cần xây dựng cơ chế hợp tác nghiên cứu giữa các doanh nghiệp thương mại tư nhân với Nhà nước, như chính sách khuyến khích nghiên cứu đặt hàng cho các nhà khoa học thành phố nghiên cứu thực hiện có sự hỗ trợ ngân sách của thành phố, các sản phẩm xây dựng dự kiến đưa vào áp dụng trong thực tiễn vv…Đồng thời có chính sách hỗ trợ 50% thông tin quảng cáo trong 6 tháng đầu kể từ khi hoạt động; hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế như ISO, HACCP, GMP ….(sau khi được cấp chứng chỉ hỗ trợ 30 triệu đồng); hỗ trợ tham gia hội triển lãm, quảng bá thương hiệu hoặc đào tạo nhân sự trong quá trình đổi mới công nghệ.

2.4.6.  Chính sách thuế và hỗ trợ vốn

Chính sách thuế:  Ở bất kỳ quốc gia nào, chính sách thuế đều có vai trò đòn bẩy khuyến khích và điều chỉnh sản xuất. Song, chính sách thuế của Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có tác dụng tích cực thúc đẩy sản xuất và khuyến khích doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp thương mại tư nhân. Vì thế, cải cách chính sách thuế là rất cấp bách hiện nay, các loại thuế đưa ra phải theo hướng nuôi dưỡng nguồn thu chứ không phải là tận thu, vai trò khuyến khích của hệ thống thuế cũng phải được thể hiện rõ hơn. Cần hạn chế điều tiết thông qua các văn bản có giá trị pháp lý thấp như thông tư hoặc công văn, mà ngược lại các quy định về thuế cần ban hành dưới dạng đạo luật. Làm như vậy người kinh doanh có thể tính toán được các yếu tố về thuế trước khi đầu tư, không bị bất ngờ bởi những thay đổi liên tục chính sách.

Các chính sách thuế (kể cả ưu đãi, miễn giảm) cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện theo nguyên tắc công bằng và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về thuế, theo hướng đơn giản, rõ ràng, vừa nâng cao ý thức trách nhiệm, vừa tạo thuận lợi cho các cơ sở sản xuất kinh doanh nói chung và để thực hiện đối với kinh tế tư nhân nói riêng. Thực hiện nghiêm các luật thuế; bổ xung chế tài xử lý các vi phạm chế độ kê toán, hoá đơn chứng từ; mở rộng thanh toán qua ngân hàng, tiến tới hạn chế sử dụng tiền mặt trong giao dịch, thanh toán.

Đối với thuế giá trị gia tăng, Nhà nước cần nghiên cứu chuyển các hộ kinh doanh vừa và nhỏ nép thuế khoán sang nép thuế theo một tỉ lệ doanh thu hoặc thuế thu nhập cá nhân. Thực hiện chế độ công khai, nép thuế đơn giản hơn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.

  Chính sách hỗ trợ vốn: Cần kiên quyết xoá bỏ tình trạng đối xử không bình đẳng trong vay vốn giữa khu vực tư nhân với khu vực Nhà nước. Các ngân hàng phải thực sự coi doanh nghiệp thương mại tư nhân là khách hàng, gắn lợi Ých của ngân hàng với lợi Ých của doanh nghiệp, cần tích cực hỗ trợ doanh nghiệp cùng tháo gỡ khó khăn, nâng cao khả năng vay vốn cho doanh nghiệp, tháo bỏ những thủ tục vay vốn rườm rà, tích cực mở rộng những tài sản có thể thế chấp trong khi vay vốn của doanh nghiệp. Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp thương mại tư nhân nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp tiếp cận được các khoản vay ngắn, trung và dài hạn tại các tổ chức tín dụng thông qua việc cấp bảo lãnh, tái bảo lãnh tín dụng. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ở khu vực tư nhân tiếp cận nguồn vốn ODA, FDI và các nguồn vốn liên doanh

Hỗ trợ cho các doanh nghiệp thương mại tư nhân, bao gồm hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp. Sớm cụ thể hoá các quy định vay vốn từ quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia, công khai các điều kiện vay để các doanh nghiệp thương mại tư nhân  có thể vay vốn từ quỹ này theo luật định. Các doanh nghiệp thương mại tư nhân cần được sự quan tâm hỗ trợ vốn từ chính quyền thành phố Đà Nẵng. Hỗ trợ gián tiếp cho các doanh nghiệp thương mại tư nhân thông qua đầu tư vào hạ tầng, cung cấp thông tin, hướng dẫn các thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận các nguồn vốn và hỗ trợ kinh phí đối với một số hoạt động đào tạo, nghiên cứu và sản xuất thử  sản phẩm mới.

2.4.7. Chính sách đào tạo nguồn nhân lực

Vấn đề nguồn nhân lực là rất quan trọng đối với nền kinh tế. Do vậy, cần phải có phương hướng đầu tư vào đào tạo bắt đầu từ giáo dục phổ thông và chú trọng đào tạo nghề. Đối với các doanh nghiệp thương mại tư nhân thì rất cần một đội ngò lao động có năng lực, tay nghề cao, có kinh nghiệm, có khả năng sáng tạo để tăng sức cạnh tranh của thành phần kinh tế này với các thành phần kinh tế khác.

Số lượng lao động của nước ta rất dồi dào nhưng chất lượng lao động còn hạn chế không chỉ riêng khu vực tư nhân mà nó là đặc điểm chung của lao động nước ta. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho khu vực tư nhân, Nhà nước cần phải quan tâm đến việc đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế này.

Để hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực tư nhân, Nhà nước cần có chính sách đào tạo lao động, cần xây dựng chiến lược, chương trình đào tạo nghề cho các thành phần kinh tế, trong đó vấn đề đào tạo công nhân kỹ thuật cần được đặc biệt chú trọng. Có chính sách hỗ trợ phát triển các trung tâm giới thiệu việc làm, xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động.

Phát triển các trung tâm dạy nghề, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, miền núi; phát triển hệ thống các trường trung học dạy nghề, cao đẳng, đại học để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức và cá nhân mở các cơ sở dạy nghề, làng nghề, nghệ nhân, thở cả trong việc đào tạo nghề.

Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, bồi dưỡng theo nhiều hình thức khác nhau để phù hợp với nhu cầu học tập của chủ doanh nghiệp và cán bộ quản lý của doanh nghiệp, từ đó xây dựng mới hệ thống đào tạo với nhiều trình độ, thời gian khác nhau. Cần mở những khoá đào tạo miễn phí hoặc giảm chi phí cho các doanh nghiệp nhằm động viên thu hót chủ doanh nghiệp và người lao động có điều kiện học tập nâng cao trình độ.

Thành phố Đà Nẵng  cần đẩy mạnh xây dựng, đầu tư các trung tâm hướng nghiệp dạy nghề theo quy mô quận-huyện; nên tư vấn miễn phí cho họ về ngành nghề để khắc phục tình trạng thừa thầy-thiếu thợ như hiện nay. Hiện nay trên địa bàn thành phố chưa có Viện hoặc Trung tâm nghiên cứu về quản lý kinh tế phục vụ cho các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp thương mại tư nhân, việc hình thành trung tâm này là rất cần thiết

2.5. Tăng cường quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại

Nội dung quản lý nhà nước là đảm bảo doanh nghiệp thương mại tư nhân kinh doanh theo đúng pháp luật; hướng dẫn theo dõi hoạt động của doanh nghiệp theo đúng nội dung đăng ký kinh doanh; đôn đốc các doanh nghiệp báo cáo theo quy định; giải quyết hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền để giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp; thực hiện thưởng phạt nghiêm minh…

Thực tế trong thời gian qua vấn đề quản lý các doanh nghiệp thương mại tư nhân chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước ngay từ khi mới thành lập. Các cơ quan có chức năng như thuế, quản lý thị trường, công an kinh tế, phòng kinh tế quận-huyện và các sở chuyên ngành chưa tiếp nhận được đầy đủ và thường xuyên các thông tin về doanh nghiệp ở khu vực tư nhân, ngược lại các doanh nghiệp ở khu vực này cũng thiếu các thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, dẫn đến bất cập trong việc quản lý doanh nghiệp. Để tăng cường quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại cần chú ý các giải pháp sau:

         –  Phân công, phân cấp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ở khu vực tư nhân:

Trước kia, trong thời gian đầu thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, các đơn vị doanh nghiệp ở khu vực tư nhân còn Ýt, việc quản lý tập trung ở cấp thành phố. Nhưng hiện nay loại hình này ngày càng phát triển, việc tập trung quản lý không còn phù hợp, vì vậy cần phải phân cấp cho các cơ sở quản lý để việc quản lý có hiệu quả hơn. Do vậy, thành phố Đà Nẵng nên phân công, phân cấp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ở khu vực tư nhân, như đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH thì quận huyện quản lý, đối với công ty cổ phần thì thành phố quản lý nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp được tạo điều kiện hoạt động, tạo môi trường kinh doanh phát triển lành mạnh, đúng hướng. Lấy việc tăng cường công tác quản lý nhà nước từ cấp cơ sở xã-phường, quận-huyện làm gốc. UBND xã-phường là cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn xã-phường, chính cơ quan này hiểu rõ và có nhiều điều kiện để quản lý các cơ sở kinh tế trên địa bàn mình; các tổ chức quần chúng, xã hội trên địa bàn xã-phường có khả năng giúp xã-phường phát hiện những hiện tượng không lành mạnh, vi phạm pháp luật, chính sách của các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã-phường.

Sở Kế hoạch-Đầu tư thực hiện tốt việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có hiệu quả theo mô hình “một cửa”; tiếp nhận hồ sơ và trình UBND thành phố cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật; xây dựng, quản lý hệ thống thông tin về doanh nghiệp; cung cấp thông tin về doanh nghiệp cho UBND thành phố, các sở, ban, ngành có liên quan và cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu.

Cục Thuế hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện đăng ký kê khai, tính thuế, nép thuế của doanh nghiệp; động viên kịp thời những doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, cũng như xử lý những vi phạm về thuế.

Các Sở chuyên ngành và các cơ quan chức năng chịu trách nhiệm giải quyết kịp thời theo thẩm quyền hoặc đề xuất cơ quan có thẩm quyền giải quyết các kiến nghị, vướng mắc của doanh nghiệp.

Đẩy mạnh cải cách hành chính trong việc giải quyết các yêu cầu của cơ sở sản xuất kinh doanh, việc cấp giấy chuyển quyền sử sụng đất, phê duyệt tổng mặt bằng, thuê đất,… trên cơ sở công khai hoá các cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp; các cơ quan Nhà nước chuyên ngành phải có trách nhiệm hướng dẫn phổ biến và thực hiện ưu đãi của Nhà nước, của thành phố đã ban hành cho cơ sở kinh tế tư nhân.

Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm: Không tiến hành kiểm kê, kiểm soát, thanh tra đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh ở khu vực kinh tế tư nhân khi chưa có dấu hiệu phạm pháp và khi cấp có thẩm quyền ra quyết định mới được thanh tra, kiểm tra. Các cơ quan chức năng khi tiến hành thanh tra, kiểm tra tuyệt đối không được gây phiền nhiễu cho doanh nghiệp và nếu gây thiệt hại cho doanh nghiệp cần phải xử lý nghiêm cả về trách nhiệm lẫn bồi thường vật chất cho doanh nghiệp.

Các cơ quan nhà nước về thương mại cần phối hợp với các Hiệp hội sản xuất, Hội bảo vệ người tiêu dùng, các cơ quan y tế, các nhà khoa học trong và ngoài nước để cung cấp những kiến thức căn bản về an toàn vệ sinh thực phẩm, các bảo quản…nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp thương mại tư nhân có hành lanh hoạt động an toàn, nâng cao chất lượng phục vụ, giữ được chữ tín trên thị trường.

–  Nâng cao hiệu quả chuyển tải nghị quyết, chỉ thị, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với doanh nghiệp ở khu vực tư nhân:

Công tác truyền tải thông tin về các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các hội đoàn thể, là điều kiện cần thiết để bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước và đối với người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh ổn định và có hiệu quả.

Trong thực tiễn công tác này vẫn còn nhiều hạn chế, thông tin đến với doanh nghiệp thương mại tư nhân chưa đầy đủ và thiếu kịp thời, nhất là những thông tin có liên quan đến quyền lợi của doanh nghiệp; các cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp thường chú trọng chức năng quản lý nhà nước về doanh nghiệp hơn là chức năng truyền tải thông tin đến với doanh nghiệp; các phương tiện truyền tải thông tin như qua mạng Internet còn nhiều hạn chế, nhất là các doanh nghiệp tư nhân hiện nay mới có 4,72% sử dụng mạng LAN trong tổng sổ 1.661/3.461 doanh nghiệp có trang bị máy tính và kết nối hệ thống mạng LAN trên địa bàn thành phố (theo Báo Đà Nẵng số 2203, ngày 29/9/2004); công nhân lao động trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ýt được biết về các chế độ, chính sách có liên quan đến quyền lợi của người lao động; thông tin mang tính chủ trương, đường lối của Đảng Ýt được các doanh nghiệp quan tâm. Để khắc phục tình hình trên thành phố cần quan tâm và có các biện pháp sau:

Truyền tải thông tin thông qua các cấp chính quyền và các cơ quan quản lý nhà nước về doanh nghiệp bao gồm các sở, ban, ngành có liên quan đến doanh nghiệp, Ban Quản lý các Khu Công nghiệp- Khu chế xuất ở Đà Nẵng. Các cấp chính quyền nhất là UBND thành phố cần tăng cường công tác chỉ đạo và tổ chức kiểm tra công tác truyền tải thông tin đến với doanh nghiệp tư nhân; truyền tải thông tin thông qua các hội đoàn thể; truyền tải thông tin thông qua Hội Doanh nghiệp trẻ thành phố; truyền tải thông tin thông qua các phương tiện  thông tin đại chúng; qua mạng Internet; qua đội ngò báo cáo viên; qua việc xây dựng và cung cấp trang tin có liên quan đến người lao động; qua mạng lưới tư vấn và trợ giúp pháp luật cho doanh nghiệp và người lao động; qua trang Web của thành phố Đà Nẵng mở một thư mục để tuyên truyền…

- Tăng cường vai trò của các tổ chức Đảng, đoàn thể:

Chú trọng phát triển các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các loại hình doanh nghiệp ở khu vực tư nhân. Phát huy vai trò của tổ chức đảng, đảng viên là những nhân tố tích cực trong việc tổ chức thực hiện chủ trương phát triển thương mại tư nhân, chống tư tuởng kinh doanh chạy theo lợi nhuận đơn thuần, mà bất chấp luật pháp, phương hại đến lợi Ých dân téc, lợi Ých quốc gia. Đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục trong công nhân lao động góp phần xây dựng giai cấp công nhân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, đổi mới việc giáo dục, tăng cường giáo dục về đạo đức cách mạng, trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, lối sống cã văn hoá… thông qua các hoạt động phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hội thi tay nghề, văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao… trong doanh nghiệp. Hướng dẫn cho các doanh nghiệp ở khu vực tư nhân chú ý đến phóc lợi cho người lao động như ma chay, hiếu hỉ, chăm nom khi đau ốm, tham quan, du lịch, học tập nâng cao tay nghề và trình độ chuyên môn cho người lao động; tham gia giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động, tích cực tham gia công tác từ thiện, chương trình xoá đói giảm nghèo, ủng hộ đồng bào lũ lụt, xây dựng nhà tình nghĩa…

Tóm lại: Kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại được đánh giá là năng động, sáng tạo, đầy tiềm năng, phải được phát triển mạnh mẽ, xem như là một nhiệm vụ có tính chất chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Vì vậy, cần tiếp tục tháo gỡ những rào cản, mở rộng điều kiện kinh doanh, tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ thích hợp thì chắc chắn mọi nguồn lực trong dân sẽ được khai thác và phát huy có hiệu quả.