Giải pháp phòng tránh những rủi ro khi xuất khẩu cá da trơn sang thị trường Mỹ

Các  doanh nghiệp Việt Nam chúng ta nên xem vụ kiện cá da trơn là một bài học, một cơ hội để nhìn lại mạnh dạn hơn trong việc kiểm soát, nâng cao chất lượng về mặt kỹ thuật cho sản phẩm đầy lợi thế của mình. Ngay từ bây giờ phải thực hiện quyết liệt hơn việc tổ chức qui hoạch lại sản xuất, sao cho từ khâu nuôi trồng đến chế biến đều đảm bảo qui trình an toàn chất lượng và đạt các tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu đặt ra. Song song đó sẽ tiến hành việc xây dựng thương hiệu sản phẩm cá tra, ba sa cho toàn vùng, thương hiệu này gắn kết với chất lượng. Ban điều hành đã đề nghị và được Bộ Thủy sản đồng ý: tới đây việc kiểm soát chất lượng sản phẩm sẽ qua một cơ quan chuyên kiểm tra chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm quốc tế và có chứng nhận của đơn vị có uy tín này. Có như vậy chúng ta mới vượt qua những rào cản kỹ thuật có khả năng tái diễn trong tương lai.

Qua vụ việc này cũng rút ra được bài học cho các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập: cần phải chủ động gắn kết với vùng nuôi nguyên liệu an toàn chất lượng – điều trước đây các doanh nghiệp không quan tâm.

1. Xây dựng thương hiệu mạnh và đa dạng hoá thị trường, đa dạng hoá sản phẩm

Bài học đầu tiên từ vụ cá da trơn là khi ưu thế cạnh tranh của các nhà sản xuất nội địa giảm sút, thị phần của họ bị suy giảm, họ có thể sử dụng mọi biện pháp có thể để ngăn cản hàng nhập khẩu. Chống bán phá giá chỉ là một trong các biện pháp mà người sản xuất nội địa có thể sử dụng. Do đó, các nhà sản xuất nội địa của Hoa Kỳ có nhiều cơ hội trong việc ngăn cản hàng ngoại nhập.Vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam phải có chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nhằm phân tán rủi ro, bảo đảm hoạt động sản xuất “không nên bỏ tất cả trứng vào một giỏ”. Không nên tập trung xuất khẩu một vài mặt hàng với khối lượng lớn vào một nước.

2.    Hệ thống chứng từ sổ sách và hạch toán kế toán theo chuẩn mực quốc tế

Hiện nay nước ta đã gia nhập WTO thì vấn đề hạch toán chi phí, quy trình hạch toán kế toán theo chuẩn mực quốc tế. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện sử dụng chứng từ sổ sách và quy trình hạch toán kế toán còn nhiều điều chưa hợp lý, chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Qua vụ kiện cá da trơn, các doanh nghiệp rút ra kinh nghiệm về chứng từ số liệu kế toán của doanh nghiệp chưa rõ ràng minh bạch, làm cho cơ quan điều tra không chấp nhận những chi phí đó, đã dẫn đến việc khó khăn và bất lợi trong việc điều tra biên độ phá giá của doanh nghiệp.Vì vậy doanh nghiệp cần có những giải pháp sau:

Hiện nay, theo hệ thống kế toán các doanh nghiệp của Việt Nam chưa có khoản mục chi phí thuê luật sư. Do đó khi bị kiện bán phá giá doanh nghiệp phải thuê luật sư để bào chữa vụ kiện sao cho được áp mức thuế thấp nhất, hầu hết doanh nghiệp đều phải thuê luật sư ở nước ngoài, các công ty luật có uy tín về chống bán phá giá, vì vậy chi phí thuê luật sư là rất lớn. Đây là một khoản mục chi phí hợp lệ mà doanh nghiệp nên áp dụng, nó phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế. Đồng thời doanh nghiệp phải hạch toán chi phí rõ ràng, số liệu chứng từ chính xác minh bạch áp dụng đúng theo chuẩn mực kế toán quốc tế.

Nghiên cứu đào tạo nâng cao kiến thức về quy trình hạch toán kế toán quốc tế; Doanh nghiệp Việt nam cần nghiên cứu đào tạo nhân viên kế toán các kiến thức chuẩn mực kế toán quốc tế, nâng cao trình độ quản lý, xử lý ghi chép các chứng từ theo đúng quy trình kế toán quốc tế. Đồng thời cần minh bạch rõ ràng số liệu kế toán theo tiêu chuẩn quốc tế.

Xây dựng hệ thống thông tin minh bạch và phù hợp chuẩn quốc tế: một hệ thống thông tin minh bạch được kiểm định độc lập theo đúng chuẩn quốc tế chính là các bằng chứng mạnh mẽ nhất để tự bảo vệ. Do vậy các doanh nghiệp cần nghiêm túc đầu tư hệ thống thông tin của mình. Hệ thống này sẽ giúp tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc theo đuổi các vụ kiện, cũng như nâng cao tính hiệu quả trong quản lý kinh doanh.

3.     Giải pháp về giá xuất khẩu và giá trị thông thường của sản phẩm xuất khẩu

Các doanh nghiệp cần phải có chiến lược về định giá xuất khẩu, xuất khẩu với giá cao những sản phẩm có chất lượng tốt, đồng thời các doanh nghiệp cần có một định mức tiêu hao thấp phù hợp với điều kiện thực tế trong doanh nghiệp. Muốn làm được điều này các doanh nghiệp cần phải có chính sách đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo những lao động có tay nghề cao và có chính sách đãi ngộ cho những người lao động có kinh nghiệm và có thời gian công tác lâu năm.

4.     Nâng cao kiến thức về luật chống bán phá giá của WTO cũng như luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ

Doanh nghiệp chế biến thuỷ sản phải biết tìm hiểu nâng cao kiến thức về luật chống bán phá giá của WTO và của Hoa Kỳ, nhanh chóng bồi dưỡng nhiều chuyên gia thông thạo các quy tắc mậu dịch quốc tế, mời các chuyên gia giỏi, kể cả các chuyên gia nước ngoài đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ quản lý của doanh nghiệp và luật sư lành nghề. Trên cơ sở đó hình thành các tổ chức chuyên phục vụ việc ứng phó với các tranh chấp về ngoại thương, bao gồm đội ngũ luật sư, kế toán, nhà kinh tế và chuyên gia chuyên sâu, có năng lực làm việc về vấn đề này, thì mới có đủ khả năng tư vấn cho doanh nghiệp, hỗ trợ cho chính phủ khi xảy ra vụ kiện chống bán phá giá để đối phó.

5.     Các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần có tinh thần tích cực theo đuổi vụ kiện khi bị nước ngoài kiện bán phá giá

Các doanh nghiệp trong quá trình điều tra phải hợp tác với cơ quan điều tra, cung cấp cho cơ quan điều tra tất cả các thông tin mà cơ quan cần. Điều quan trọng nhất không phải là chứng minh rằng “lẽ phải thuộc về mình” mà là giảm thiểu mức áp thuế chống bán phá giá càng thấp càng tốt.

Nói tóm lại, trong xu thế phát triển và hội nhập chung của thế giới. Các doanh nghiệp Việt Nam rút ra một số giải pháp phòng tránh những rủi ro để cá da trơn cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường Mỹ  sau:

Trước hết, điều quan trọng nhất, Việt Nam có những đối sách kịp thời để hạn chế những khó khăn do vị trí nền kinh tế phi thị trường mang lại. Vì trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đã và đang phải chịu nhiều thiệt thòi trong các cuộc điều tra chống bán phá giá vì toàn bộ số liệu về giá cả và chi phí sản xuất tại Việt Nam đều bị cơ quan điều tra của nước nhập khẩu từ chối xem xét vì Việt Nam bị coi là nền kinh tế phi thị trường.Về nguyên tắc, địa vị nền kinh tế phi trường của một nước không phải vĩnh viễn. Theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO thì địa vị nền kinh tế phi thị trường của Việt Nam sẽ chấm dứt vào năm 2019 hoặc thậm chí trước đó, nếu nước nhập khẩu tuyên bố xoá bỏ địa vị này cho Việt Nam. Như vậy hoặc là chúng ta kiên nhẫn chờ đợi cho đến năm 2019, hoặc là ngay từ bây giờ nhà nước ta khẩn trương thực hiện các chính sách nhằm thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình chuyển đổi nền kinh tế cũng như tích cực vận động các nước đối tác sớm bỏ địa vị nền kinh tế phi thị trường cho Việt Nam.

Thứ hai, tăng cường hoạt động của các tổ chức, hiệp hội ngành hàng tham gia các vụ kiện bán phá giá. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, muốn đẩy mạnh xuất khẩu cần phải cũng cố vai trò của hiệp hội để sẵn sàng và chủ động giải quyết các tranh chấp thương mại có thể phát sinh. Các hiệp hội ngành hàng nên thiết lập cơ quan đại diện ở nước ngoài, trước hết là tập trung vào các thị trường trọng điểm và tổ chức tốt việc nghiên cứu các điều kiện thâm nhập thị trường nhằm mở rộng thị trường nhập khẩu và nâng cao hiệu quả ngành hàng của mình. Hiệp hội cũng cần phối hợp chặt chẽ giữa đại diện hiệp hội với tham tán thương mại để đạt được kết quả, xử lý và đánh giá thông tin một cách toàn diện.

Thứ ba, chính Phủ cần tăng cường vai trò hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam để giúp họ ngăn ngừa và ứng phó hiệu quả với các biện pháp chống bán phá giá của đối tác thương mại. Chính phủ có thể hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam về các thông tin liên quan đến các thị trường xuất khẩu, về chính sách thương mại của quốc gia có vụ kiện chống bán phá giá. Việc hỗ trợ có thể được thực hiện thông qua các hình thức: hội thảo; tập huấn; các tài liệu hướng dẫn cho doanh nghiệp. Đồng thời, trong phạm vi khả năng của mình, Bộ Thương Mại có thể hỗ trợ doanh nghiệp thông tin về các văn phòng luật sư nước ngoài về chống bán phá giá, giúp các doanh nghiệp bằng việc tổng hợp các kinh nghiệm và bài học của các vụ kiện chống bán phá giá trước đó.

Thứ tư, việc xây dựng chiến lược thị trường xuất khẩu cần đảm bảo tránh không để cho xuất khẩu tăng đột biến vào những thị trường có thể xẩy ra những khiếu kiện chống bán phá giá. Bên cạnh đó, trong công tác nghiên cứu và xây dựng chiến lược phát triển xuất khẩu ngành, Nhà nước cũng cần xem xét, cân nhắc đến nguy cơ đe dọa từ các vụ kiện chống bán phá giá tại những thị trường lớn và những thị trường đã có tiền lệ kiện chống bán phá giá đối với những sản phẩm xuất khẩu tương tự hoặc giống của các nước trên thế giới.

Thứ năm, nghiên cứu đào tạo nâng cao kiến thức về quy trình hạch toán kế toán quốc tế; Doanh nghiệp Việt nam cần nghiên cứu đào tạo nhân viên kế toán các kiến thức chuẩn mực kế toán quốc tế, nâng cao trình độ quản lý, xử lý ghi chép các chứng từ theo đúng quy trình kế toán quốc tế. Đồng thời cần minh bạch rõ ràng số liệu kế toán theo tiêu chuẩn quốc tế.

Cuối cùng, điều quan trọng là các doanh nghiệp Việt Nam phải tự mình nâng cao khả năng cạnh tranh, chủ động áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm, đào tạo bồi dưỡng cán bộ và nâng cao trình độ nguồn nhân lực… để kịp thời ứng phó với những tranh chấp có thể phát sinh trong thương mại quốc tế . Làm được điều đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể khẳng định mình và đứng vững trong làn sóng cạnh tranh khóc liệt của hội nhập WTO.