Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu thủy sản sang thị trường Mỹ

1  Giải pháp tăng cường nghiên cứu thị trường Mỹ

Phân tích những đặc điển của thị trường thuỷ sản Mỹ cùng với xen xét thực trang hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Ngành thuỷ sản Việt nam trong thời gian qua vào thị trường này đã cho thấy có rất nhiều những khó khăn để thúc đẩy xuất khẩu hàng thuỷ sản tăng nhanh về kim ngạch và tốc độ. Một trong những khó khăn hàng đầu được phản ánh từ phía  các doanh nghiệp, đó là khả năng hiểu biết về thị trường Mỹ còn hạn chế. Muốn đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ thì trước hết phải tăng cường khả năng hiểu biết về thị trường Mỹ trên các vấn đề sau đây:

+ Nghiên cứu nắm vững luật pháp của Mỹ có liên quan đến hoạt động nhập khẩu hàng thuỷ sản. Thực tế cho thấy hệ thống luật pháp của Mỹ là rất phức tạp và chặt chẽ. Ngoài hệ thống luật pháp liên bang thì mỗi bang lại có sự khác biệt đáng kể về luật lệ. Tổng cộng 50 bang của Hoa kỳ có tới trên 2700 chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan này đều có các quy định riêng của họ. các yêu cầu này thường không thống nhất với nhau. Vì vậy không thể tuy tiện áp dụng quy định của Bang này ở một Bang khác. Các doanh nghiệp, hiểu rõ và đầy đủ hệ thống pháp luật của Mỹ liên quan đến hoạt động xuất khẩu của mình như: các thủ tục hải quan, biểu thuế quan nhập khẩu, luật trách nhiệm sản phẩm, luật chống phá giá, vấn đề bảo hộ và sở hữu trí tuệ, vấn đề ghi xuất sứ hàng hoá hay lập hoá đơưn thương mai,… tất cả đều có các quy định nghiêm ngặt và buộc phải tuân thủ chặt chẽ. đặc biệt cần nghiên cứu kỹ quy định luật của Mỹ về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thuỷ sản- luật thực phẩm nêu trong chương 1,2,3. Để hiểu rõ hệ thống pháp luật của Mỹ các doanh nghiệp có thể tiếp cận với các nguồn thông tin khác nhau, chẳng hạn như thông qua các đối tác Hoa Kỳ yêu cầu họ cung cấp các quy định về đóng gói, về vệ sinh an toàn thực phẩm, về trình tự kiểm tra của FDA đối với hàng thuỷ sản nhập khẩu vào Mỹ. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể tìm hiểu thông qua các tổ chức như Bộ thuỷ sản, Bộ thương mại, Phòng thương mại và công nghiệp Việt nam, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sảnViệt nam, các nhà môi giới hải quan Mỹ, cơ quan thương vụ Mỹ tại Việt nam

+ Nắm thông tin về thuế nhập khẩu đối với hàng thuỷ sản của Mỹ, thuế suất có thể thay đổi từng năm, thuế suất được giảm nhiều khi hàng thuỷ sản xuất khẩu cóị giá trị gia tăng lớn.

+ Nắm thông tin về đối thủ cạnh tranh, hàng thuỷ sản của ngành thuỷ sản Việt nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ đang chịu sự cạnh tranh râts lớn từ các đối thủ đã được chỉ ra khi phân tích ở chương 2 cần lưu ý rằng những đối thủ này có nhiều điểm tương đồng về điều kiện sản xuất, xuất khẩu với Việt nam và họ đã có  một thời gian dài thâm nhập, phát triển tại thị trường Mỹ, họ có  mạng lưới phân phối hàng thuỷ sản hiệu quả, đặc biệt các đối thủ đó thực hiện các liên kết hỗ trợ rất tốt giữa doanh nghiệp và chính phủ trong việc xúc tiến đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ, và thu hút đầu tư,  liên  kết với các đối tác Mỹ cả trong khai thác, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản.

+ Năm vững  thông tin cụ thể về mặt hàng xuất khẩu thông qua cách thức, tổ chức tham quan, tham dự hội chợ hàng thuỷ sản có sự hỗ trợ của nhà nước; nắm bắt thông tin qua hiệp hội chế biến xuất khẩu thuỷ sản Việt nam; qua trung tâm phát triển ngoại thương của tỉnh, thành phố, Qua phòng thương mại và công nghiệp Việt nam.Ngoài ra, nắm các thông tin về hàng thuỷ sản từ nước Mỹ thông qua mạng Internet.

2  Giải pháp tăng cường hoạt động xúc tiến xuất khẩu vào thị trường Mỹ.

Trên cơ sở nghiêu cứu và nắm vững thị trường thuỷ sản của Mỹ,muốn thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường này, đòi hỏi phải thực hiện giải pháp tăng cường xúc tiến xuất khẩu g. Tăng cướng xúc tiến xuất khẩu cần phải được thực hiện cả ở tầm vĩ mô và cả ở tầm vi mô.

* Đối với xúc tiến xuất khẩu ở tầm vĩ mô.

Bộ thuỷ sản cần phải phối hợp với cục xúc tiến thương mại thuộc Bộ thương mại xây dựng chiến lược  xúc tiến ở tầm vĩ mô phù hợp với đậc diểm tính chất của thị trường Mỹ. Sự phối hợp này thông qua việc giúp các doanh nghiệp tiếp cận với thị trường mỹ qua các cuộc khảo sát thị trường, tham gia hội chợ hàng thuỷ sản, thông qu việc tiếp xúc với các doanh nghiệp của Mỹ,…

Bộ thuỷ sản xây dựng trang Web với thiết kế hợp lý khoa học để giới thiệu tiềm năng của ngành thuỷ sản việt nam; tính cạnh tranh của sản phẩm thuỷ sản Việt nam, hoạt động thương mại; các cơ hội thương mại và đầu tư ; cơ chế thủ tục đầu tư; xuất  nhập khẩu thuỷ sản, đặc biệt là các sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị hiếu của thị trường mỹ.

Bộ thuỷ sản, phối hợp tổng cục du lịch và Bộ văn hoá thông tin, tổng cục hàng không Việt nam để giới thiệu văn hoá ẩm thực việt nam.

Bộ thuỷ sản cần phối hợp với Bộ ngoại giao để giao nhiệm vụ cho các sứ quán của Việt nam đóng ở Mỹ tham gia cung cấp thông tin về thị trường mỹ và tìm kiếm đối tác.

Xây dựng phương án thuê kho hoặc đầu tư xây dựng kho đông lạnh tại thị trường Mỹ để giúp doanh nghiệp từng bước tiến tới phân phối trực tiếp hàng thuỷ sản trên thị trường này.

Tổ chức các hội thảo khoa học quốc tế về giống, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản nhiệt đới, tìm kiếm các cơ hội để thu hút các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào nuôi trồng, chế biến thuỷ sản.

* Xúc tiến xuất khẩu ở tầm vi mô

Các doanh nghiệp của Việt nam xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường mỹ có thể lựa chọn tổ chức xúc tiến trực thông qua khảo sát và tìm kiếm khách hàng trên thị trường Mỹ, tham gia hội chợ triển lãm. Để ttỏ chức xúc tiến trực tiếp có hiệu quả cần phải chuẩn bị chu đáo cụ thể: tham khảo ý kiến của hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản (VASEP), của tham tán thượng mại của Việt nam tại Mỹ, của các khách hàng quen trước khi qua Mỹ. Tổ chức chu đáo cho chuyến đi từ lập lịch trình tiếp xúc tham quan, đến chuẩn bị catalogue giới thiệu sản phẩm, kế hoạch tiếp xúc với các đối tác phải thật chi tiết.

Các doanh nghiệp Việt nam xuất khẩu thuỷ sản có thể tiếp thị thông qua mạng Internet bằng 2 cách:

Xây dựng trang Web của công ty với thiết kế khoa học và gây được ấn tượng; tiến tới việc xuất khẩu thuỷ sản qua mạng.

Các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt nam tuy vào sự tăng trưởng của quy mô kinh doanh của doanh nghiệp có thể lựa chọn tiếp thị thông qua việc xây dựng bộ phận đại diện thương mại của công ty tại thị trường Mỹ. Trước mắt có thể góp vốn để hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt nam mở văn phòng đại diện tại Mỹ và doanh nghiệp dựa vào văn phòng này để nắm thông tin về thị trường và tiến hành xúc tiến thương mại. Khi doanh nghiệp xuất khẩu đạt doanh số lớn trên 30 triêu USD/ năm sẽ mở thêm văn phòng hoặc chi nhánh tại các thành phố lớn của Mỹ để đẩy mạnh xúc tiến bán hàng.

Các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản cần tiến đến xây dựng và củng cố thương hiệu sản phẩm của mình trên thị trường Mỹ. Điều này cần tập trung vào nâng cao chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, cần phải có được các mặt hàng thuỷ sản phù hợp với nhu cầu của thị trường Mỹ để sản phẩm của doanh nghiệp có đặc trưng riêng. Xây dựng thương hiệu thuỷ sản của mình có uy tín trên thị trường Mỹ là phương tiện tiếp thị hữu hiệu giúp duy trì và phát triển thị trường.

3 Giải pháp nâng cao tính cạnh tranh của mặt hàng thuỷ sản .

Chất lượng, giá cả là những yếu tố quan trọng nhất để tiếp tục duy trì được tốc độ xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ. Những phân tích ở chương 2 đã cho thấy tính cạnh tranh của hàng thuỷ sản của Việt nam chưa phải là cao: còn xuất khẩu thô, chua tạo lập được thói qen tiêu dùng, giá thành sản phẩm cao. Giải quyết những vấn đề này trong thời gian tới cần phải thực hiện tốt các vấn đề sau đây:

3.1 Nâng cao tính cạnh tranh về chất lượng:

+ Bắt buộc các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản phải đạt được tiêu chuẩn HACCP, khuyến kích xây dựng tiêu chuẩn ISO 9000. Đa số thị trường nhập khẩu thuỷ sản lớn của Việt nam, trong đó có thị trường Mỹ đù đòi hỏi HACCP giống như giấy thông hành bắt buộc khi muốn đưa hàng thuỷ sản vào thị trường Mỹ, Ngoài ra với hệ thống HACCP sẽ cho phép các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản thường xuyên ngăn ngưà va xử lý kịp thời những mối nguy đáng kể xâm nhập vào sản phẩm, từ khâu nguyên liệu đầu vào đến khẩu cuối cùng. Khi xây dựng tiêu chuẩn HACCP và thực hiện chương trình này có hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản phải có các điều kiện sau đây:

Doanh nghiệp phải có chương trình sản xuất ổn định và phải kiểm soát được quá trình đó; toàn bộ nhân viên tham gia trong hệ thống HACCP phải được đào tạo; doanh nghiệp phải có riêng hệ thống tài liệu và dữ liệu để bảo đảm cung cấp và phân tích thông tin chính xác; chất lượng sản phẩm phải ổn định và đồng nhất, các thiết bị đo lường kiểm tra chính xác; có hệ thống kịp thời phát hiện mầm bệnh và mối nguy có liên quan đến chế biến thực phẩm. Tuy nhiên khi đã xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn HACCP được rồi thì doanh nghiệp cần phải tins tới xây dựng tiêu chuẩn ISO 9000. Bởi vì tiêu chuẩn HACCP không nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng cho nên nó không đề cập đến việc duy trì cơ sở hạ tầng cho việc kinh doanh thuỷ sản. Trong khi đó tiêu chuẩn ISO 9000 không chỉ quan tâm tới quá trình kiểm soát quá trình chế biến thuỷ sản, mà còn quan tâm tới cả cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đến nhu cầu và yêu cầu của người tiêu dùng và hiệu quả kinh doanh xuất khẩu.

+ Nâng cao tỷ trọng hàng thuỷ sản chế biến: Hàng thuỷ sản chế biến  xuất khẩu vào thị trường Mỹ nếu tăng được  tỷ trọng chẳng những thu được nhiều ngoại tệ hơn, sử dụng nhân công lao động rẻ, khai thác được lợi thế về thuế nhập khẩu mà hiệp định thương mại Việt – Mỹ mang lại, mà còn cho phép bảo quản chất lượng tốt hơn. Muốn sử dụng giải pháp này cần phải nghiên cứu kỹ thị hiếu tiêu dùng của người dân Mỹ,  thực hiện liên doanh, liên kết với các công ty Mỹ để họ bao tiêu sản phẩm.

+ Hoàn thiện hệ thống kiểm tra chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm quốc gia. Một thực tế hiện nay cho thấy tồn tại một thực trạng là có qua nhiều các cơ quan thực hiện thanh tra – kiểm tra nhà nước về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm: Trung tâm y tế dự phòng, Trung tâm tiêu chuẩn- đo lường-chất lượng sản phẩm khu vực hoặc chi cục tiêu chuẩn -đo lường-chất lượng; Trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh thuỷ sản (NAFIQACEN); Chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản; Chi cục thú y… Sự quản lý chồng chéo, phân đoạn trong công tác kiểm tra, thanh tra và quản lý nhà nước về chất lượng gây khó khăn và tốn kém cho doanh nghiệp xuất khẩu.

Bộ thuỷ sản và các cơ quan ban ngành hoàn chỉnh lại hệ thống văn bản pháp quy về quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm trên cơ sở các văn bản hiện hành và nghiên cứu quy định của các nước về vấn đề này để xây dựng các tiêu chuẩn mạng tính hội nhập, đảm bảo cho sản phẩm thuỷ sản đạt tiêu chuẩn Quốc gia cũng đạt tiêu chuẩn Quốc tế. Bộ thuỷ sản thay mặt chính phủ cần phải nỗ lực làm sao ký được hiệp định tránh kiểm tra hai lần  thuỷ sản xuất khẩu với cơ qua FDA Hoa kỳ để khi hàng thuỷ sản xuất khẩu đã lấy được giấy chứng nhận của (NAFIQACEN) thì khi nhập khẩu vào Mỹ không phải giám định lại.

3.2 Nâng cao tính cạnh tranh về giá của hàng thuỷ sản xuất khẩu.

Trong thời gian vừa qua xuất khẩu thuỷ sản nói chung và xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ nói riêng đứng trước một khó khăn phổ biến là các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu đều khó khăn về nguyên liêu đầu vào so với công suất thiết kế của nhà máy, cho nên phải tranh giành thu mua nguyên liệu với giá cao dẫn tới giá xuất khẩu thuỷ sản chưa mang tính cạnh tranh cao. Để thuỷ sản xuất khẩu cạnh tranh được về giá phải tâp trung vào giải quyết tốt các vấn đề sau :

+ Giảm tổn thất trong khâu thu hoạch ( đánh bắt và nuôi trông). Theo thống kê của bộ thuỷ sản tổn thất trong khâu thu hoạch thuỷ sản chiếm từ 20 – 30% tổng sản lượng thuỷ sản. Những nguyên nhân dẫn đến tổn thất là do việc đánh bắt ở nhiều nơi không khoa học; phương tiện bảo quản huỷ sản phục vụ đánh bắt xa bờ kém dẫ đến thuỷ sản hư thối phải loại bỏ; tận dụng phế liệu thuỷ sản chưa tốt,… Tất cả những nguyên nhân trên dẫn đến giá thành đánh bắt thuỷ sản cao. Muốn giảm tổn thất trong khâu thu hoạch cần đầu tư đồng bộ: đánh bắt, hậu cần cho đánh bắt, chế biến, bảo quản thuỷ sản đánh bắt xa bờ. Khuyến khích và phổ biến công nghệ tận dụng các phế phẩm từ thuỷ sản để làm nước mắm, thức ăn gia xúc, phân bón,… nhờ đó mà giảm giá thành sản phẩm. Thể chế hoá bằng luật nghiêm cấm đánh bắt thuỷ sản gây hại cho môi trường.

+ Tổ chức tốt công tác hậu cần cho hoạt động đánh bắt xa bờ.

+ Tổ chức tốt các trung tâm giống quốc gia để tránh hiện tượng giống thuỷ sản tốt nhưng khan hiếm đã đẩy giá lên cao hoặc giống xấu dẫn đến năng suất nuôi trồng thấp.

+ Lập ngân hàng thuỷ sản có các chi nhánh tại các trung tâm thuỷ sản lớn của Nhà nước để phục vụ cho tất cả các khâu kinh doanh thuỷ sản tránh được hiện tượng phổ biến hiện nay là thiếu vốn.

+ Nâng cao năng suất đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản, hiện nay việc đánh bắt và nuôi trồng nhìn chung là kỹ thuật lạc hậu, áp dụng phương pháp quảng canh là chủ yếu làm cho năng suất thấp ảnh hưởng đế giá thành xuất khâủ, cho nên công nghiệp hoá sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản, áp dụng công nghệ tiên tiến sẽ góp phần nâng cao năng suất và giảm thiểu rủi ro do môi trường thời tiết, khí hậu thay đổi, giảm chi phí sản xuất kinh doanh thuỷ sản.

+ Đơn giản hoá thuỷ tục hành chính liên quan đến kiểm tra, kiểm soát thuỷ sản xuất khẩu để giảm được chi phí kinh doanh xuất khẩu.

4  Giải pháp ổn định kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản

Muốn thúc đấy xuất khẩu thuỷ sản của Ngành thuỷ sản Việt nam nói chung và đặc biệt là xuất khẩu hàng thuỷ sản vào thị trương Mỹ rất cần thiết phải có giải pháp làm giảm đi những yếu tố bất ổn định ảnh hưởng đến sự tăng trưởng xuất khẩu thuỷ sản. Ổn định kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản bao hàm tạo lập và ổn định môi trường kinh doanh và ổn định và phát triển nguyên liệu đầu vào cho hoạt động chế biến xuất khẩu. Điều này được giải quyết thông  qua thực hiện những giải pháp cụ thể sau đây:

+ Nhanh chóng xây dựng và phê chuẩn luật thuỷ sản.  Ngành thuỷ sản phải xúc tiến nhanh xây dựng dự thảo luật thuỷ sản để trình Quốc hội  thông qua nhằm ổn định môi trường kinh doanh thuỷ sản, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đầu tư kinh doanh thuỷ sản, tạo cơ sở thực hiện kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh thuỷ sản và xử lý lý các trường hợp vi phạm pháp luật có liên quan đến thuỷ sản.

+ Xây dựng chiến lược giống thuỷ sản ở tầm Quốc gia

Mặc dù từ năm 1996 Bộ thuỷ sản đã có quyết định về việc quy hoạch sắp xếp lại cơ sở giống nuôi thuỷ sản thời kỳ 1996-2000, trong đó có 6 trung tâm giống quốc gia nước ngọt thuộc các viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản, 10 trại giống cấp một thuỷ sản nước ngọt, 3 trung tâm giống quốc gia hải sản, nhưng trên thực tế các trung tâm này chưa được đầu tư xây dựng để thực hiện chức năng của hệ thống giống Quốc gia. Tôm là mặt hàng xuất khẩu chủ lực chiếm gần 50% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ nhưng việc quy hoạch hệ thống trại sản xuất giống chưa được triển khai, các trại sản xuất mtôm giống tập trung ở miền trung do đó vận chuyển tôm giống đi các tỉnh Miền tây Nam Bộ và chuyển tôm giống ra các tỉnh phía Bắc làm tăng chi phí, chất lượng tôm giống bị ảnh hưởng và đặc biệt là không bảo đảm thời vụ nuôi.

Vấn đề giải quyết tôm bố mẹ thành thục, có chất lượng cho các cơ sở sản xuất giống nhân tạo là vấn đề bức xúc vẫn chưa có giải pháp hiệu quả. Giá cả tôm mẹ biến động rất lớn từ vài trăm ngàn đồng /1 con, có lúc lên 10 triệu đồng /1 con.

Việc nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giống cá biển còn chậm, đến nay nuôi biển vẫn phải dựa vào giống tự nhiên.

Cần thết đển giải quyết những bất cập đó cần phải xây dựng chiến lược giống thuỷ sản ở tầm Quốc gia để định hướng phát triển thuỷ sản theo hướng có hiệu quả nhất; phát triển giống phù hợp với điều kiện quy hoạch lãnh thể, giảm thiểu tính tuỳ tiện trong sử dụng giống, kiểm soát dịch bệnh và phòng chống dịch bênh trong nuôi trồng thuỷ sản, đảm bảo tạo ra nguồn nguyên liệu nuôi trồng thuỷ sản ổn định cung cấp cho hoạt động xuất khẩu.

+ Xây dựng chiến lược nguồn nguyên liệu thuỷ sản bền vững. Hiện nay xuất khẩu vào thị trường Mỹ, nhiều doanh nghiệp chế biến hàng xuất khẩu không thể đáp ứng các đơn đặt hàng lớn từ phía đối tác Mỹ vì thiếu nguyên liệu, hoặc có nguyên liệu nhưng giá cao do phải cạnh tranh trong thu mua lớn. Muốn xây dựng chiến lược nguồn nguyên liệu thuỷ sản bền vững cần áp dụng các biện pháp:

– Tiếp tục hoàn chỉnh chương trình đánh bắt xa bờ, nhưng chú ý tính đồng bộ của việc thực hiện chương trình này: không chỉ đầu tư vào tàu có khả năng đánh bắt xa bờ, mà còn phải đầu tư đồng bộ cho tàu có khả năng chế biến và bảo quản thuỷ sản xa bờ.

– Lập bản đồ quy hoạch vùng nuôi trồng thuỷ sản để hướng dẫn ngư dân chuyển đổi có khoa học sản xuất nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản. Tránh tình trạnh như hiện nay, nuôi trồng thuỷ sản mang tính tự phát cao, thiếu sự chỉ đạo, hướng dẫn của nhà nước khiến người dân đầu tư lớn, nhưng tỷ lệ thất bại cũng rất nhiều, dẫn đến thiếu nguyên liệu mở rộng thị trường xuất khẩu.

–  Bộ thuỷ sản cần phải lấy một phần ngân sách nghiên cứu khoa học và công nghệ dành cho ngành để in các tài liệu khuyến ngư phát không hoặc bán rẻ cho ngư dân nuôi trồng thuỷ sản: những tài liệu này chứa đựng những thông tin phổ biến về các loại giống thuỷ sản phù hợp, có hiệu quả; cách nuôi trồng chúng; những kinh nghiệm phòng bệnh và chữa bệnh cho các loại thuỷ sản.

– Xây dựng chiến lược nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản từ nước ngoài để chế biến hàng xuất khẩu. Nguồn nguyên liệu thuỷ sản có được từ việc tăng cường và phát triển nuôi trồng và khai thác thuỷ sản .  Tuy nhiên, thực tế vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ và ồn định nguyên liệu đầu vào cho chế biến xuất khẩu thuỷ sản. Hiện nay nhà nước vẫn giữ mức thuế nhập khẩu nguyên liêu thuỷ sản rất cao( 30% ), vì vẫn cho rằng nhập khẩu thuỷ sản nguyên liệu dẫn đến làm suy yếu ngành sản xuất thuỷ sản nước nhà. Nhưng cần phải khuyến khích nhập khẩu thuỷ sản nguyên liệu vì : một mặt giải quyết tình trạng thiếu nguyên liệu cho chế biến, mặt khác kích thích Ngành thuỷ sản phải nỗ lực tìm biện pháp tăng tính cạnh tranh, giảm giá thành. Nhập khẩu nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu thuỷ sản cần thực hiện đồng bộ  các biện pháp: Giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0% -5%( tuỳ từng loại ); Thể chế hoá quy định nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản  trong luật thuỷ sản; Tiêu chuẩn hoá các các quy định về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các nguyên liệu thuỷ sản nhập khẩu; Xây dựng quy chế kiểm tra kiểm soát  đối với nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản .

– Có chính sách ưu đãi đầu tư nước ngoài cho phát triển  cơ sở cung cấp giống và nuôi trồng thuỷ sản. Ngành công nghiệp thuỷ sản Việt nam có trình độ phát triển công nghệ sản xuất giống, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến đi sau hàng chục năm so với các quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới. Cho nên muốn giảm bớt yếu tố tự nhiên, tự phát trong sản xuất thuỷ sản thì cần phải có quy chế đặc biệt ưu đãi về: thuế sử dụng tài nguyên mặt nước, VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp và nhiều các ưu đãi khác.

+ Xây dựng hệ thống kho thuỷ sản quốc gia tại những trung tâm lớn vềđánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản. Phải tiến hành xây dựng ngay hệ thống kho thuỷ sản Quốc gia tại Đà Nẵng, Quảng ninh, thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện các hoạt động quan trọng như: tham gia ổn định giá thuỷ sản xuất khẩu tránh tình trạng doanh nghiệp bán thấp hơn giá thành khi giá thuỷ sản thế giới xuống thấp; giúp các doanh nghiệp ổn định nguồn hàng thực hiện các hợp đồng lớn; nhận giữ hàng thuỷ sản của các doanh nghiệp; tiến tới chở thành chợ xuất khẩu thuỷ sản để là nơi môi giới khách hàng, cung cấp thông tin thị trường, tình hình cung cầu, giá cả thuỷ sản xuất khẩu, phục vụ cho đấu giá thuỷ sản; phối hợp cung cấp các dịch vụ giám định chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thuỷ sản xuất khẩu; thủ tục hải quan. Xây dựng kho với vốn đầu tư ban đầu bằng nguồn vốn ngân sách hoặc nguồn vố ODA, vốn cổ phần và kho phải hoạt động theo chế độ hạch toán độc lập.