Giải pháp xây dựng chiến lược về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức phù hợp nhằm duy trì vai trò động lực cho tăng trưởng kinh tế

Chặng đường đổi mới 20 năm đang khép lại, trên cơ sở tích lũy được từ chặng đường đổi mới, khắc phục những tồn tại, bất cập liên quan đến thể chế, tư duy, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Năm 2016 được coi là thời điểm cần thiết để khởi động “Công cuộc Đổi mới và hội nhập lần thứ II với tầm nhìn đến năm 2030”, trong đó xác định Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và những bước đi cần thiết để tận dụng cơ hội mới trong hội nhập, khắc phụ những hạn chế nội tại, biến động phức tạp của kinh tế thế giới. Để phục vụ cho giai đoạn tới 2017-2020 và tầm nhìn đến năm 2030, nhu cầu vốn là rất lớn, trong đó nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, Việt Nam cần xây dựng chiến lược về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức phù hợp nhằm duy trì vai trò động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cụ thể là xây dựng đề án thu hút và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2030. Vấn đề đặt ra là xác định các ngành, lĩnh vực ưu tiên sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức của nhà tài trợ giai đoạn 2017-2020 và những năm tiếp theo của Việt Nam cần phải được tính toán cân nhắc kỹ lưỡng, ưu tiên sử dụng nguồn vốn ODA cho các dự án đầu tư công có quy mô lớn tác động mạnh tới sự thay đổi những ngành, lĩnh vực quan trọng, đảm bảo việc đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA được hiệu quả và có khả năng trả nợ vốn vay, phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Bên cạnh nguồn vốn trong nước, cần xác định chiến lược về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức là nguồn vốn bên ngoài quan trọng đáp ứng nhu cầu vốn cho sự phát triển toàn diện, hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp cơ bản và cung cấp đầu vào để phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế khác. Cụ thể, đối với ngành năng lượng và công nghiệp, cần xác định nguồn vốn ODA góp phần nâng cao năng lực sản xuất, cải tiến máy móc thiết bị sản xuất, truyền tải, phân phối, quản lý hệ thống điện, xây dựng các nhà máy điện công suất lớn, xây dựng nhà máy lọc dầu, hỗ trợ quốc gia về năng lượng và công nghiệp. Đối với ngành giao thông vận tải và bưu chính viễn thông, xác định nguồn vốn ODA giữ vai trò hỗ trợ Việt Nam khôi phục và phát triển các công trình giao thông vận tải quan trọng, trọng điểm quốc gia, chuyển giao công nghệ tiên tiến giúp tăng cường năng lực của ngành xây dựng giao thông, hỗ trợ lĩnh vực bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin hoàn thành chiến lược hội nhập và phát triển. Từ đó, các công trình sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức giữ vai trò là động lực góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước, góp phần thu hút, mở rộng các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế đất nước như đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp từ nước ngoài (FII). Đầu tư nước ngoài FDI và FII ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam, góp phần bổ sung một lượng lớn vốn đầu tư vào Việt Nam trong điều kiện Việt Nam ở trong tình trạng thiếu vốn đầu tư phát triển, đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam,  góp  phần  đổi  mới  công nghệ, giải quyết việc làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, đóng góp vào nguồn thu ngân sách nhà nước.