Giải quyết vấn đề nghèo đói và bất công

1.1.            CHIẾN LƯỢC PHÂN PHỐI LẠI TRƯỚC, TĂNG TRƯỞNG SAU

Mẫu hình cơ bản của chiến lược này là hình ảnh thu nhỏ kinh nghiệm của các nền kinh tế XHCN ở Châu Á, đặc biệt là cộng hòa nhân dân Trung Hoa, trước khi nước này có những chuyển biến quan trọng hướng nhiều hơn vào thị trường. Sự phát triển của CNXH ở các nước này bắt đầu từ việc sung công tài sản của các nhà tư bản và chủ đất. Những tài sản này được dùng để trợ cấp những nhà sản xuất nhỏ hoặc đặt dưới sự kiểm soát của một hệ thống quyền sở hữu tập trung. Việc xung công tài sản đã gây nên hai tác động lên phân phối thu nhập. Tác động tức thời là làm thay đổi phân phối thu nhập. Trong dài hạn, tác động thứ hai quan trọng hơn nhiều. Điều này phụ thuộc vào năng suất của các tài sản bị sung công dưới sự quản lý mới. Nên sự quản lý này hiệu quả ít nhất là như trước  thì việc phân phối lại sẽ thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn. Tuy nhiên, nếu tài sản được sử dụng kém hiệu quả hơn trước, việc phân phối lại sẽ mất ý nghĩa. Những gì mà người nghèo nhận được không tương xứng với những gì đã lấy từ ông chủ trước kia.

Những nước theo đuổi một mô hình phát triển toàn diện cũng không thể bỏ quên nhu cầu tích lũy thặng dư và tái đầu tư nó một cách hiệu quả nếu họ muốn tăng trưởng. Ở Liên Bang Xô Viết cũ, quá trình phát triển ( vốn theo đuổi chiến lược phát triển công nghiệp nặng ) đã kéo theo nỗ lực kiềm chế tiêu dùng và vắt cạn thặng dư của người dân nói chung, đặc biệt là những người nông dân. Bất bình đẳng được kiềm chế bởi vì hầu hết thu nhập đều đổ dồn về cho nhà nước, tuy vậy hệ thống này luôn có xung đột và cuối cùng cũng đã sụp đổ vì cơ bản nó đã không cải thiện được mức tiêu dùng của người dân Xô Viết.

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thì theo đuổi một mô hình phát triển cân bằng hơn. Cùng với việc phát triển công nghiệp nặng, nước này còn chú ý đến các đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ, phi tập trung hóa và sử dụng nhiều lao động. Bằng việc “đứng trên hai chân” này và việc không ngừng cung cấp các dịch vụ an sinh cơ bản, Trung Quốc đã có thể đạt được sự tăng trưởng công bằng hơn so với Liên Bang Xô Viết cho dù nghèo hơn nhiều.

Tuy nhiên, đến cuối những năm 1980 thì sự bất mãn với cách tiếp cận toàn diện trong phát triển kinh tế đã trở nên phổ biến. Mikhal Gorbachev đã thất bại khi áp dụng các nguyên lý thị trường vào nền kinh tế Xô Viết và đến năm 1991 thì liên bang này tự sụp đổ. Các nước cộng hòa sau đó đã phải hủy bỏ cấu trúc kinh tế cũ và thành lập các hệ thống kinh tế hướng thị trường. Chính Phủ Trung Quốc cũng đã thực hiện tự do hóa thị trường và tránh các xung đột chính trị. Chính phủ để cho các hộ gia đình tự quyết định sản xuất trong các trang trại và cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thành lập nhà máy nhà máy ở một số vùng. Những cải cách này đã thúc đẩy tăng trưởng sản xuất nhanh đến nỗi Trung Quốc đã trở thành nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, nhưng chính chúng cũng làm làm cho tình trạng bất bình đẳng gia tăng giữa các hộ gia đình và giữa các vùng.

Mặc dù mô hình phân phối lại trước- tăng trưởng sau chỉ có thể thực hiện trong một chế độ mà quyền lực có được thông qua cách mạng bằng vũ lực, một phiên bản của nó cũng đã được sử dụng ở Đài Loan và Hàn Quốc. Ở đó, những ông chủ đất lớn ở nông thôn bị phá sản ngay sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II và sau đó quá trình phát triển được thúc đẩy cực nhanh và tương đối bình đẳng.

1.2.            CHIẾN LƯỢC PHÂN PHỐI LẠI CÙNG VỚI TĂNG TRƯỞNG

Để tránh sự thái quá trong mô hình tập trung phát triển công nghiệp của Lewis cũng như trong mô hình phân phối lại trước rồi tăng trưởng sau, một nghiên cứu được tài trợ bởi Ngân Hàng Thế Giới đã tìm ra đường lối dung hòa, gọi là chiến lược “ phân phối lại đồng thời với tăng trưởng”. Điều này có nghĩa là những thành quả đạt được từ tăng trưởng có thể được phân phối lại để dần dần làm cho sự phân phối thu nhập trở nên công bằng hơn, hay ít ra là không tệ hơn trước.

Ý tưởng căn bản của chiến lược này là các chính sách của chính phủ nên tìm cách định hướng sự phát triển sao cho những người sản xuất nhỏ có thể tìm thấy cơ hội nâng cao thu nhập đồng thời nhận được các nguồn lực cần thiết để nắm bắt chúng. Theo nhóm nghiên cứu của Ngân Hàng thế giới, có bảy loại công cụ chính sách có thể sử dụng để đạt được mục đích này là:

  1. Các biện pháp làm cho lao động trở nên rẻ một cách tương đối so với vốn và do đó khuyến khích sử dụng nhiều hơn những người lao động có kỹ năng thấp.
  2. Phân phối lại các loại tài sản một cách năng động bằng cách khuyến khích hình thành các loại tài sản mà người nghèo có thể sở hữu được, chẳng hạn như đất nông nghiệp đã được cải tạo và các cửa hàng nhỏ.
  3. Tăng cường giáo dục để nâng cao hiểu biết, kỹ năng và khả năng tiếp cận với nền kinh tế hiện đại.
  4. Hệ thống lũy tiến cao hơn.
  5. Cung cấp công khai các loại hàng hóa tiêu dùng cho người nghèo, chẳng hạn như các loại lương thực cơ bản.
  6. Can thiệp vào thị trường hàng hóa và dịch vụ để hỗ trợ người sản xuất cũng như những người tiêu dùng nghèo.
  7. Phát triển các loại công nghệ mới mà có thể giúp những người lao động có thu nhập thấp đạt năng suất cao hơn.

Bằng cách nào những công cụ trên có thể hòa hợp tự nhiên trong chính sách của một nước còn tùy thuộc vào trường hợp cụ thể của nước đó. Một chiến lược phát triển dựa trên nông nghiệp, nhắm đến sự bình đẳng thường được đặt ra ở các nước lớn, chủ yếu dựa vào nông nghiệp chẳng hạn như Ấn Độ. Ở các nước này, thời gian cần thiết để khu vực hiện đại hấp thu hết lao động thặng dư là quá lâu. Do đó, một chiến lược phát triển tập trung vào khu vực nông thôn hy vọng có thể đem lại sự bình đẳng trong phát triển nhiều hơn là nếu cứ tập trung vào khu vực công nghiệp thành thị.

Mặt khác, những nước có khu vực hiện đại lớn hơn khu vực truyền thống đối mặt với việc cân bằng các yếu tố ít nghiêm trọng hơn. Những nước này có thể hi vọng tạo ra một nền kinh tế hiện đại, thống nhất trong một khoảng thời gian ngắn hơn nhiều, và đồng thời có thặng dư nhiều hơn để phân phối lại cho khu vực truyền thống thông qua các dịch vụ xã hội và các dự án phát triển nông thôn.

Các tiếp cận theo hướng phân phối lại đi cùng với tăng trưởng đã thu hút không ít mối quan tâm từ những người mong muốn nhìn thấy phúc lợi các nước nghèo được cải thiện mà không phải trải qua một cuộc  cách mạng vũ lực nào. Tuy nhiên, có một điều mà chúng ta phải chấp nhận rằng những thay đổi từ việc áp dụng chiến lược này xảy ra rất chậm ở hầu hết các nước.

1.3.             CHIẾN LƯỢC NHU CẦU CƠ BẢN

Chiến lược các nhu cầu cơ bản của con người nhằm vào việc cung cấp cho người nghèo nhiều hàng hóa và dịch vụ cơ bản: thực phẩm, nước sạch, chăm sóc sức khỏe, giáo dục cơ bản và nhà ở. Để thành công, chiến lược này cần hai điều: Thứ nhất, phải có đủ nguồn lực tài chính để đảm bảo rằng người nghèo được cung cấp hàng hóa và dịch vụ cần thiết ở mức giá mà họ có thể trả được. Thứ hai, cần có mạng lưới dịch vụ để có thể phân phối các dịch vụ tương thích cho người nghèo, đặc biệt là trong vùng người nghèo sinh sống.

Việc tái phân phối thu nhập thông qua việc kết hợp hệ thống thuế lũy tiến với chi tiêu công vào các chương trình dịch vụ xã hội là một phần quan trọng của trào lưu cải cách ở các nước kém phát triển bị giảm đi nhiều do khu vực công của các nước này thường nhỏ và vì thế mà kém khả năng tăng nguồn thu. Đồng thời, do chính phủ các nước này thường sử dụng thuế và chi tiêu công để theo đuổi nhiều mục tiêu khác nên không thể toàn tâm cho việc phân phối lại. Hơn nữa, quá nhiều khó khăn trong việc xác định, thiết kế và thực hiện các dự án công cũng làm ảnh hưởng xấu đến việc giảm nghèo.

Vì các chương trình BNH là để tái phân phối thu nhập nên những dịch vụ cơ bản cần được trợ cấp. Nếu không, việc phân phối thu nhập lại sẽ không có hiệu quả vì người nghèo sẽ phải chi quá nhiều bằng đồng thu nhập nhỏ nhoi của mình hoặc bị nản lòng mà không dùng nó nữa. Và nếu người nghèo không thể sử dụng các dịch vụ, việc chuyển thu nhập thông qua trợ cấp sẽ mất tác dụng. Chẳng hạn, ở nhiều nước, các trường đại học công  chỉ chấp nhận có chọn lọc các học sinh tốt nghiệp trung học hạng giỏi, nhưng chỉ lấy phí rất thấp và do đó đã trợ cấp cho người giàu. Để người giàu có thể tiếp cận được các dạng dịch vụ thích hợp phải được nhấn mạnh: giáo dục tiểu học thì cần hơn giáo dục đại học, các trung tâm y tế làng quan trọng hơn các bệnh viện chuyên môn ở thành thị. Hơn nữa, hệ thống dịch vụ phải được mở rộng đến tận những người nghèo ở vùng xa cũng như trong các khu ổ chuột ở thành phố. Ở đó, phải có trường học và trạm y tế cũng như thầy giáo và nhân viên y tế để sẵn sàng phục vụ cho người nghèo. Cho đến nay, hầu hết các nước phát triển chậm đều chưa đáp ứng được điều này, ngoại trừ một vài trường hợp đáng để học hỏi.

Sự hấp dẫn của chiến lược BNH là ở quan điểm đầu tư vốn vào con người. Các nguồn chi tiêu đầu tư cho giáo dục, y tế và các hoạt động xã hội khác sẽ cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Khi những chi tiêu này nhằm trực tiếp vào người nghèo, chẳng hạn như các chương trình giáo dục tiểu học  hay trương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng nông thôn, chúng sẽ trở thành cách để giảm nghèo bằng cách tăng sức sản xuất của người nghèo.