Hạn chế của nghiên cứu hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp

Mặc dù có những đóng góp cho lý luận cũng như thực tiễn, luận án vẫn còn những hạn chế sau:

Hạn chế trong mô hình lý thuyết giả thuyết nghiên cứu: Sự thành công của hệ thống thông tin kế toán nói riêng và sự thành công của hệ thống thông tin nói chung có thể được đánh giá và đo lường theo nhiều cách thức khác nhau, theo thang đo tài chính hoặc phi tài chính. luận án chỉ lựa chọn tiếp cận theo góc độ hệ thống thông tin với các thang đo phi tài chính, đồng thời chỉ phân tích với đơn vị phân tích cá nhân là nhân viên kế toán. Kết quả nghiên cứu có thể khác biệt nếu đơn vị phân tích là cá nhân là các nhà quản lý, cán bộ quản lý bậc trung hay những người sử dụng thông tin kế toán trong doanh nghiệp – vì khác biệt có thể đến từ trách nhiệm quản lý hay cảm nhận về hệ thống thông tin ở góc nhìn người sử dụng thông Mô hình nghiên cứu cũng chỉ lựa chọn và sử dụng một số khái niệm trong nghiên cứu của Stacie Petter và cộng sự (2013) làm biến độc lập – nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp – mặc dù kết quả nghiên cứu đã khẳng định mức ý nghĩa của những khái niệm này, nhưng có thể còn những khái niệm khác ảnh hưởng đến sự thành công của hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp có ý nghĩa thống kê cần được khám phá, khẳng định, nhất là các nhân tố thuộc về tính chất dự án và tính chất tổ chức. Các nghiên cứu khác còn cho thấy vai trò điều tiết của niềm tin tác động đến việc chấp nhận và sử dụng công nghệ (Gefen, Karahanna, & Straub, 2003; Luo, Li, Zhang, & Shim, 2010; Andreas I Nicolaou & McKnight, 2006; Andreas

Nicolaou, Ibrahim, & van Heck, 2013) và do đó có thể ảnh hưởng đến sự thành công của hệ thống thông tin kế toán. Trong nghiên cứu của luận án này, vấn đề điều tiết của niềm tin chưa được đề cập trong mô hình lý thuyết.

Hạn chế trong mô hình đo lường: Các thành phần bậc 1 trong mô hình đo lường đều có thang đo dạng kết quả dựa trên các nghiên cứu đi trước, và các khái niệm bậc cao cũng được mô hình hóa dạng kết quả. Tuy nhiên các khái niệm bậc cao có thể được mô hình hóa dạng nguyên nhân (formative) vì các quan hệ nhân quả có thể hướng từ các thành phần bậc thấp đến thành phần bậc cao – để đo lường tổng thể thành phần bậc cao – hơn là chiều ngược lại (Diamantopoulos & Siguaw, 2006) và theo Jarvis và cộng sự (2003), khi các thành phần bậc thấp này là đóng vai trò là biến quan sát cho thành phần bậc cao, các thành phần bậc thấp này không thể hoán đổi cho nhau. Mô hình đo lường của nghiên cứu trong Luận án chưa phân tích đến khả năng này.

Hạn chế trong xây dựng và sử dụng thang đo: Thang đo của các khái niệm nghiên cứu được xây dựng và kế thừa từ các nghiên cứu đi trước. Trong những nghiên cứu này, thang đo được xây dựng cho thị trường phát triển. Việc kế thừa thang đo này cho thị trường Việt Nam – nơi có quá nhiều khác biệt trong tri thức, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin, văn hóa,… do đó có thể không phản ánh đúng bản chất cấu trúc của nghiên cứu ở Việt Điều này có thể dẫn đến khả năng thiên lệch đo lường ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.

Hạn chế trong việc xác định biến phụ thuộc: Biến phụ thuộc cuối cùng là sự thành công của hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp Việt Nam theo quan điểm của người kế toán. Trong cấu trúc khái niệm này, có các thành phần ảnh hưởng cá nhân, chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống. Hạn chế của Luận án là các thành phần bậc 1 của biến phụ thuộc được đo lường từ dữ liệu thu thập từ người sử dụng hệ thống chứ không phải người sử dụng kết quả có được từ hệ thống, do đó chỉ thể hiện một phần về sự thành công của hệ thống thông tin kế toán trong doanh nghiệp. Hơn nữa, các nhà quản lý trong doanh nghiệp có thể quan tâm hơn đến thành quả của doanh nghiệp – kết quả có được từ sự thành công của hệ thống thông tin kế toán. Thành quả của doanh nghiệp có thể được đo lường bởi thang đo tài chính hoặc phi tài chính, và được thu thập độc lập với dữ liệu đo lường sự thành công của hệ thống thông tin kế toán, kết quả sẽ khách quan và thuyết phục hơn. Nghiên cứu của Luận án chưa thực hiện được nội dung này.

Hạn chế trong đặc tính dữ liệu: Dạng nghiên cứu dữ liệu ngang với bảng câu hỏi khảo sát luôn có nhược điểm chung đó là mối quan hệ nhân quả giữa các biến trong mô hình, đặc biệt là trong trường hợp mô hình lý thuyết của luận án này: Sự thành công của hệ thống thông tin kế toán là kết quả của nhận thức, chấp nhận và sử dụng công nghệ, tuy nhiên cũng có thể lập luận rằng, hệ thống thông tin kế toán thành công dẫn đến tăng cường nhận thức và sử dụng hệ thống thông tin kế toán.

Hạn chế trong phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi khảo sát, chọn mẫu thuận tiện phi xác suất, một người trả lời cho tất cả biến quan sát có thể dẫn đến hiện tượng thiên lệch do phương pháp. Mặc dù kết quả kiểm định cho thấy trong nghiên cứu của luận án ảnh hưởng lệch do phương pháp không đáng kể, nhưng đây vẫn là hạn chế của luận án. Đồng thời, phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng không thể kiểm soát được độ lệch về thời gian khi mà mô hình nghiên cứu có thể bị ảnh hưởng bởi biến thiên thời gian- do đó việc khảo sát ở các thời điểm khác nhau là điều cần thiết.