Hạn chế về hình thức thực hiện đấu thầu

Hình thức mua sắm phân tán tồn tại một số hạn chế như sau: Không chuyên nghiệp và chưa tách bạch được nhiệm vụ quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ trong quản lý tài sản công; tốn kém chi phí tổ chức thực hiện. Trong quá trình mua sắm, các đơn vị cùng thực hiện một quy trình đấu thầu mua sắm đối với một số loại tài sản như nhau (ô tô, trang thiết bị phục vụ công tác). Thay vì một tổ chức thực hiện và một số chuyên gia có chuyên môn sâu thực hiện, thì tại mỗi đơn vị sẽ tổ chức riêng lẻ. Tính tổng thời gian và nhân lực để thực hiện nhiệm vụ này của toàn xã hội sẽ rất lớn (khoảng 100.000 đơn vị thực hiện một nhiệm vụ giống nhau là tiến hành các thủ tục đấu thầu để mua sắm một số chủng loại hàng hóa giống nhau: Xe ô tô, máy tính, trang thiết bị làm việc, thiết bị giáo dục, y tế…); Giá cả hàng hóa, dịch vụ cao hơn do mua sắm nhỏ lẻ; Tài sản mua sắm thiếu tính đồng bộ, hiện đại và việc đảm bảo tiêu chuẩn, định mức trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Do có nhiều đầu mối mua sắm nên gây khó khăn trong công tác quản lý, kiểm tra và giám sát do tốn nhiều thời gian, công sức.

Hình thức hình thức mua sắm tập trung tồn tại một số hạn chế như sau: Mức độ triển khai chưa đồng đều, chưa chuyên nghiệp (chưa có các chuyên gia am hiểu về đấu thầu, định giá, chuyên môn kỹ thuật của tài sản mua sắm); Mỗi hình tổ chức mua sắm tập trung chủ yếu theo chế độ kiêm nhiệm nên gặp nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện do chưa bố trí đủ nhân lực; Hạn chế trong việc bàn giao tài sản; bảo hành, bảo trì tài sản mua sắm do thực hiện thí điểm theo cách thức đơn vị được giao mua sắm sẽ trực tiếp thực hiện mua sắm, ký hợp đồng và giao cho các đơn vị sử dụng; Nguồn kinh phí mua sắm, dự toán mua sắm và cách thức thanh toán còn chưa linh hoạt dẫn đến khó khăn trong thanh, quyết toán.

Hình thức đấu thầu qua mạng tồn tại một số hạn chế như sau: Quy trình đấu thầu qua mạng chưa hoàn thiện, công tác đảm bảo an ninh, bảo mật thông tin, tăng kích thước tệp tin dự thầu, cải thiện giao diện thân thiện… bên cạnh đó hệ thống mạng đấu thầu quốc gia của nước ta vẫn còn đang tồn tại nhiều hạn chế do đó là mô hình giao diện cũ do Chính phủ Hàn Quốc tài trợ, lên cần phải sớm được nâng cấp, hoàn thiện các tính năng, giao diện sử dụng, thân thiện và tiện dụng hơn, cũng như tổng thể mọi chức năng và được liên kết với các hệ thống dữ liệu khác của ngân hàng, địa phương, tăng cường tiện ích cho người dùng. Thực tế, không ít đơn vị hiện nay vẫn coi thông tin về đấu thầu như “tài nguyên quan trọng”, không dễ để chia sẻ. Bên cạnh đó, quá trình triển khai ĐTQM cũng cho thấy các bộ, ban, ngành, địa phương nào có sự quyết liệt đôn đốc, giám sát triển khai chặt chẽ thì tỷ lệ ĐTQM tăng rõ rệt; nơi nào không quyết tâm, cố tình “chây ỳ” không áp dụng ĐTQM thì thường nêu ra các trở ngại và số lượng gói thầu ĐTQM rất thấp, thậm chí có những đơn vị chưa thực hiện gói thầu điện tử nào. Có thể thấy, mặc dù ĐTQM có nhiều lợi ích nhưng không phải chủ đầu tư hay bên mời thầu nào cũng sẵn sàng thực hiện, cho dù họ có đủ điều kiện để triển khai.

Có lẽ, đây mới là nguyên nhân chính dẫn đến ĐTQM vẫn chỉ đạt tỷ lệ thấp như hiện nay. Chính vì còn tồn tại một số hạn chế như trên mà trên thực tế công tác QLNN về ĐTMSC còn tồn tại nhiều bất cập, cụ thể xét về góc độ đảm bảo các yêu cầu trong QLNN về ĐTMSC thì hệ thống pháp luật về ĐTMSC còn tồn tại những hạn chế sau:

– Hạn chế trong đảm bảo tính cạnh tranh

Tình trạng thông thầu, nhận hối lộ và môi giới hối lộ trong đấu thầu vẫn còn tồn tại và khó có biện pháp giải quyết triệt để. Hiện tượng cản trở trong đấu thầu vẫn tồn tại khá phổ biến, tình trạng bên mời thầu thông thầu với nhà thầu hoặc cản trở các nhà thầu tiếp cận thông tin trong đấu thầu, gây khó khăn cản trở đối với các nhà thầu để được tham gia mua hồ sơ dự thầu…vẫn còn diễn ra khá phổ biến. Do đó hạn chế cơ hội và khả năng dự thầu của các nhà thầu gây ảnh hưởng đến chất lượng đấu thầu. Hiện tượng lạm dụng hình thức chỉ định thầu vẫn còn tồn tại, nhiều địa phương, đơn vị tìm cách để áp dụng hình thức chỉ định thầu để thay thế cho hình thức đấu thầu rộng rãi để dễ dàng thao túng các cuộc thầu, hạn chế cơ hội tham gia dự thầu đối với các nhà thầu có năng lực. Cụ thể trong năm 2017, hình thức chỉ định thầu vẫn là hình thức có số lượng gói thầu lớn nhất là 153.287 gói thầu (chiếm 69,21%) nhưng có tỷ lệ tiết kiệm thấp nhất 2,62%. Như vậy, thông qua số liệu có thể thấy rằng việc đấu thầu trên cả nước vẫn còn những hạn chế nhất định, hiệu quả công tác đấu thầu chưa được đẩy mạnh so với năm 2016.

Hiện nay, Pháp luật nước ta quy định các bên mời thầu phải đăng tải các nội dung liên quan đấu thầu lên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Tuy nhiên tình trạng không đăng tải thông tin theo quy định tại Điều 8 Luật Đấu thầu vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, đặc biệt là các thông tin về kế hoạch lựa chọn nhà thầu và kết quả lựa chọn nhà thầu. Điều này làm ảnh hưởng lớn tới tính công khai, minh bạch và hiệu quả của công tác đấu thầu.

– Hạn chế trong đảm bảo tính công bằng

Trong thời gian vừa qua mặc dù công tác đảm bảo tính công bằng trong QLNN về ĐTMSC đã có những bước tiến bộ tích cực, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn tồn tại một số hạn chế gây ảnh hưởng đến tính công bằng trong đấu thầu như: tình trạng thông thầu, cản trở trong đấu thầu, hoặc hiện tượng có sự phân biệt đối xử trong đấu thầu cụ thể phân biệt giữa doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ. Do vậy, gây khó khăn và hạn chế rất lớn đối với các doanh nghiệp tư nhân đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tham gia đấu thầu.

Trên thực tế, tồn tại thực trạng nếu như các doanh nghiệp không có mối quan hệ tốt với chủ đầu tư, bên mời thầu họ sẽ khó khăn khi tiếp cận các thông tin liên quan đến gói thầu, dự án và khó khăn hơn trong cơ hội tiếp cận và trúng thầu. Thực tế qua rất nhiều vụ án tham nhũng được phát hiện và xử lý trong thời gian vừa qua, thì hầu hết trong các vụ án đó thì giữa bên mời thầu, chủ đầu tư đều có mối quan hệ liên quan đến lợi ích với các nhà thầu và họ tìm mọi cách để tạo cơ hội, điều kiện cho các doanh nghiệp thân cận, hoặc doanh nghiệp của người thân quen được trúng thầu. Những cái bắt tay, móc ngoặc giữa các bên liên quan để đạt mục đích dàn xếp cho nhà thầu “ruột” trúng thầu đã làm méo mó bản chất của hoạt động đấu thầu. Câu chuyện này không dừng ở việc hạn chế phát hành hồ sơ mời thầu (HSMT) mà còn đạt đến độ “tinh vi” hơn là “cài cắm” tiêu chí trong HSMT. Do vậy, đây cũng là những vấn đề còn tồn tại khá phức tạp gây ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của người dân và doanh nghiệp về tính công bằng trong hoạt động QLNN về ĐTMSC.

– Hạn chế trong đảm bảo tính minh bạch

Trên thực tế pháp luật đã có quy định hoạt động đấu thầu phải đảm bảo tính công khai, minh bạch thông tin trong đấu thầu, Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ đạo các Bộ ngành trung ương và địa phương phải thực hiện công khai minh bạch thông tin trong đấu thầu, đặc biệt là việc đẩy mạnh áp dụng đấu thầu qua mạng để tạo đột phá trong việc công khai thông tin trong đấu thầu. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại khá phổ biến hiện tượng một số Bộ ngành và địa phương tìm mọi cách để chậm triển khai hoặc chưa triển khai thực hiện đấu thầu qua mạng. Thậm chí trên thực tế nhiều cơ quan, đơn vị tìm mọi cách để bưng bít, dấu diếm thông tin liên quan đến đấu thầu, không đăng tải hoặc đăng tải không đầy đủ các nội dung theo quy định lên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

– Hạn chế trong đảm bảo tính hiệu quả kinh tế

Thực trạng đấu thầu trong thời gian vừa qua đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về hiệu quả đầu tư công, chất lượng sản phẩm hàng hóa, công trình sau đấu thầu. Trong thời gian qua, thực tế tại nhiều bộ, ngành, địa phương, tập đoàn chưa thực sự sát sao, quan tâm đến hiệu quả công tác đấu thầu, chưa có những chỉ đạo quyết liệt, biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả, tăng tỷ lệ tiết kiệm thông qua đấu thầu, hạn chế những hình thức lựa chọn nhà thầu kém cạnh tranh như chỉ định thầu. Việc mua sắm, sử dụng tài sản Nhà nước vẫn còn tình trạng không kịp thời, chưa phù hợp và vượt tiêu chuẩn quy định. Việc chấp hành quy định về tiêu chuẩn, định mức, chế độ sử dụng phương tiện, thiết bị làm việc, xe ô tô công còn chưa thực sự nghiêm. Lãng phí tồn tại trong mua sắm công do không thực hiện đúng quy định của pháp luật về đấu thầu, xác định giá gói thầu không hợp lý, dẫn đến giá mua sắm cao bất hợp lý nhất là trong lĩnh vực y tế. Trên thực tế trong thời gian vừa qua đã tồn tại và xảy ra nhiều vụ án tham nhũng, lãng phí lớn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả chi tiêu và tính kỷ luật của ngân sách của nhà nước.