Hạn chế về môi trường pháp lý về đấu thầu mua sắm công ở Việt Nam

Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống pháp luật về ĐTMSC còn tồn tại nhiều hạn chế như: các văn bản luật còn chồng chéo, dàn trải tồn tại ở nhiều văn bản khác nhau, nhiều quy định còn thiếu sự thống nhất, đặc biệt các văn bản hướng dẫn thi hành luật còn thiếu những văn bản quy định chi tiết, cụ thể và rõ ràng về các quy định, tiêu chuẩn về kỹ thuật, tiêu chuẩn về chất lượng, tiêu chuẩn về năng lực tài chính…và các văn bản hướng dẫn chi tiết về đấu thầu qua mạng.

Các quy định của pháp luật về ĐTMSC còn tồn tại nhiều kẽ hở, thiếu chặt chẽ tạo cơ hội cho tình trạng lách luật, tham nhũng, lãng phí xảy ra. Tình trạng nhiều văn bản hướng dẫn thi hành luật về ĐTMSC còn chậm được ban hành, do đó khi có Luật và Nghị định rồi, nhưng các địa phương và doanh nghiệp vẫn phải chờ có Thông tư hướng dẫn mới thực hiện được, đặc biệt tình trạng một số quy định của luật và hướng dẫn trong lĩnh vực ĐTMSC còn chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể nên dễ dẫn tới tình trạng hiểu sai, hoặc gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện. Hiện nay, vẫn còn sự chưa đồng bộ, thống nhất giữa chính sách của một số ngành, lĩnh vực với pháp luật đấu thầu, bởi đối với hoạt động ĐTMSC, bên cạnh Luật Đấu thầu và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn còn chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành (Luật ngân sách, Luật Phòng chống tham nhũng, Luật hình sự, Luật cạnh tranh…), trong đó tồn tại những mâu thuẫn, chưa thống nhất, gây không ít khó khăn khi thực hiện.

Ví dụ: Tại Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 (Nghị định 59) của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng còn có một số nội dung chưa phù hợp quy định của pháp luật về đấu thầu. Cụ thể tại điểm b khoản 7 Điều 10 và khoản 2 Điều 30 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP quy định trường hợp không đủ điều kiện thực hiện công tác thẩm định, cơ quan chuyên môn về xây dựng, người quyết định đầu tư được yêu cầu chủ đầu tư lựa chọn trực tiếp tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực phù hợp đã đăng ký công khai thông tin năng lực hoạt động xây dựng trên Trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng để chủ đầu tư ký kết hợp đồng thẩm tra phục vụ công tác thẩm định. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 8 Điều 4 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, hoạt động lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn của các dự án đầu tư phát triển sử dụng vốn nhà nước (bao gồm cả lựa chọn tư vấn thẩm tra) thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 nên phải áp dụng một trong các hình thức lựa chọn nhà thầu quy định từ Điều 20 đến Điều 26 của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.