Hàng rào phi thuế quan

Thuế quan nói chung là gây khó chịu , nhưng ít nhất thì nó cũng dơn giản và rõ ràng. Ngược lại, hàng rào phi thuế quan thì khó hiểu và không rõ ràng . Tầm quan trọng của thuế quan đã suy giảm trong khi đó hàng rào phi thuế quan đã trở nên quan trọng hơn, thường được nguỵ trang, tác động của hàng rào phi thuế quan có thể chỉ bằng, nếu khong nói là nhiều hơn tác động của thuế quan..

Xét về nghành, các sản phẩm từ thép và dược phẩm XK của Mỹ bị ảnh hưởng lớn nhất bởi hàng rào phi thuế quan xét về quốc gia, Nhật bản là nước khó vào nhất đối với hàng chế tạo xuất khẩu của Mỹ, tiếp sau là các nước EEC. Nhật bản vẫn duy trì hạn nghạch với hơn 100 sản phẩm nông nghiệp và ngư nghiệp.

Thuốc lá của nước ngoài phải được bán thông qua một đại lý của chính phủ, đại lý này cũng định giá cao cho các sản phẩm nhã hiiêụ nước ngoài. Nếu điếu thuốc lá đó được sử dụng ở Nhật bản, chúng phải được mua từ một cửa hàng với giá bán lẻ

Hàng rào phi thuế quan có vài trăm loại . Có thể chia thành 5 nhóm lớn, mỗi nhóm có một số hàng rào phi thuế quan khác nhau.

Sự tham gia của chính phủ vào thương mại.

Mức độ can thiệp của chính phủ vào thương mại biến đổi từ thụ động đến củ động. các hình thức tham gia bao gồm tư vấn hành chính, mậu dịch quốc doanh và các hoạt động hỗ trợ.

Chỉ dẫn hành chính nhiều Chính Phủ thương đưa ra những ý kiến tham khảo kinh doanh buôn bán cho các công ty tư nhân, Nhật Bản cũng làm như  vậy dựa trên nền tảng quy tắc để giúp thi hành chính sách công nghiệp của mình. Sự hợp tác có hệ thông giữa CP Nhật và các doanh nghiệp được lấy tên là “Japan Inc”. Để những công ty tư nhân tuân theo chỉ dẫn của Chính Phủ Nhật, Chính Phủ đã sử dụng biện pháp thưởng phạt khiến ai cũng phải cố gắng thông qua sử dụng ảnh hưởng của luật lệ quy tắc, tiến cử, khuyến khích, không khuyến khích, và ngăn cấm. Nhiều người nghi ngờ rằng Chính Phủ Nhật Bản khuyên các thương nhân của mình mua bán và kiểm soát ngoại tệ như thế nào chỉ để điều chỉnh giá từ đồng yên, làm cho xuất khẩu của Nhật Bản được thuận lợi. Những hội đồng hành chính của các cơ quan chính phủ Nhật Bản có đủ ảnh hưởng để giới hạn các nhà nhập khẩu mua xắm hàng hoá ở mức nhất định không vượt quá nhu cầu tiêu dùng trong nước. Chính phủ Nhật phủ định việc đó là một thực tế đang tồn tại, đưa ra yêu cầu tìm kiếm các bản báo cáo về số lượng mua xắm của mỗi công ty. Điều thú vị đáng chú ý là lời chỉ dẫn này thỉnh thoảng được áp dụng mặc dù miến cưỡng để khuyến khích nhập khẩu. Vào năm 1981, uỷ ban hội chợ triển lãm nhật bản đã buộc ngành công nghiệp và thương mại quốc tế phải xoá bỏ lơì chỉ dẫn này đối với ngành công nghiệp sản xuất giấy. Hiệp hội ngành công nghiệp chất bán dẫn đã nộp đơn kiện theo điều 301 của Bộ luật thương mại 1974, buộc tội Chính phủ Nhật Bản đã giới hạn thị phần của các công ty Mỹ ở mức 10%. Hiệp hội đã rút đơn kiện sau khi Nhật Bản đồng ý áp dụng”Lời chỉ dẫn hành chính” để tăng cường nhập khẩu bán dẫn củ Mỹ.

Chi tiêu Chính phủ và kinh doanh của Nhà nước. Kinh doanh Nhà nước là sự tham gia tốt nhất của Chính phủ bởi vì giờ đây bản thân Chính phủ là khách hàng hay người mua, người quyết định mua cái gì, khi nào, ở đâu và bao nhiêu. Thực tế, Chính phủ tham gia các hoạt động thương mại cả trực tiếp và gián tiếp thông qua các cơ quan dưới sự giám sát của mình. Các hoạt động kinh doanh đó hoặc là thay thế, hoặc là bổ xung thêm các doanh nghiệp tư nhân. Mặc dù sự tham gia của Chính phủ trong kinh doanh buôn bán rất phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa, Chính phủ của những nước này có trách nhiệm đưa ra kế hoạch tập trung đối với toàn bộ nền kinh tế nhưng thực tế không chỉ giới hạn ở những quốc gia này. ở Thái Lan, nhiều nhà máy sản xuất dầu thuộc sở hữu của các công ty đa quốc gia như exxon và Shell nhưng chính phủ Thái Lan cũng sở hữu và kinh doanh các nhà máy sản xuất dầu và các trạm Gas. Chính phủ Mỹ, người tiêu dùng lớn nhất trên thế giới, theo luật mua bán của Mỹ buộc phải đưa ra hạn mức đấu thầu đối với các nhà cung ứng Mỹ mặc dù giá của họ cao hơn. Việc bành chướng của các công ty thuộc sở hữu nhà nước của Châu Âu được xem như bước phát triển thần kỳ trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản. Thực tế có sự hàm ý nghiêm trọng”Chính phủ không còn bị hạn chế các chức năng quan trọng củ mình nữa như điều chỉnh trọng tài trong nền kinh tế thị trượng tư nhân”.

Những vấn đề gây ra bởi chi tiêu và kinh doanh của chính phủ rất nghiêm trọng và có lẽ Nhật Bản mình hoạ cho điều này rõ nét nhất. Dường như không thể xuyên qua được những rào cản của Nhật Bản đặc biệt trên thị trường lớn về thiết bị bưu chính viến thông. Chẳng hạn chỉ có 1% thiết bị của nước ngoài được hãng Nippton Telephon and Telegraph mua mặc dù thậm chí sản phẩm của Nhật còn đắt hơn.

Khi Chính phủ can thiệp quá sâu vào việc bán lại các sản phẩm nhập khẩu thì vấn đề càng trở nên phức tạp. Các công ty thuốc lá của Mỹ đã khuyến cáo rằng các đại lý thuốc lá và muối của Nhật Bản đã giữ gía cao giả tạo các sản phẩm của họ và những người bán hàng độc quyền thuốc lá củ Chính phủ đã góp phần làm mất danh tiếng các sản phẩm của Mỹ đang được quảng cáo. Tại các vòng đàm phán thương mại của 89    quốc gia ở Geneva Nhật Bản đã ngần ngại nới lỏng các hàng rào thuế quan toả khắp mọi nơi của mình, đặc biệt là xu hướng của các đại lý chống lại việc mua các sản phẩm nước ngoài trị giá hàng tỷ đô mỗi năm. Kết quả là đã thất bại trong việc thông qua bộ luật quốc tế mà sẽ thúc đẩy có hiệu quả các hoạt động chi tiêu của chính phủ.

Trợ cấp.

Sự tham gia của Chính phủ có thể được thực hiện dưới hình thức trợ cấp để bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước hoặc để thúc đẩy xuất khẩu. Chẳng hạn xe hơi được sản xuất và bán ở Braxin phải chịu thuế gía trị gia tăng và thuế doanh thu chiếm khoảng 35 – 40% giá bán. Những nếu những chiếc xe hơi này được xuất khẩu chúng sẽ được miễn thuê và nhà sản xuất có thể kiếm thêm một khoản tín dụng thuế ngang bằng tổng số thuế, tổng số lên tới gấp đôi tiền thuế được miễn. Tiền xuất khẩu góp phần làm giảm thuế thu nhập của các công ty. Tất cả sự khuyến khích này nhằm làm cho chi phí sản xút xe hơi rẻ hơn 25 % so với sản xuất chúng ở Châu Âu. Các nhà xuất khẩu cũng có đủ khả năng về tài chính và tài trợ. Chẳng hạn họ chỉ phải trả 8 – 20% lãi xuất thậm chí lãi xuất thị trường là 50 – 60%. Những khuyến khích khác bao gồm giảm giá cước và giá bảo hiểm và xoá bỏ những rào cản nhập khẩu nghiêm ngặt để mua hàng nước ngoài.

Trợ cấp có thể dưới nhiều hình thức bao gồm tiền mặt, lãi xuất, thuế gía trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế doanh thu, giá cước, bảo hiểm và cơ sở hạ tầng. Các khoản cho vay trợ cấp giành cho các khu vực yêu tiên, tỷ giá triết khấu ưu đãi, gía trần gía sàn tín dụng là những chính sách trợ cấp của một số nước Châu á. Một phương thức trợ cấp thường thấy của Chính phủ là tài trợ ưu đãi ( thấp hơn so với lãi xuất thị trường) những nhà nhập khẩu ngũ cốc nước ngoài có thể được hưởng trợ cấp của chính phủ Canada với tỷ giá xấp xỉ tỷ giá gốc, Chính phủ Mỹ đã giành hàng triệu đô la sẵn có để trợ cấp lãi xuất cho các nhà nhập khẩu ngũ cốc nước ngoài.

Một số quốc gia có thể lựa chọn biện pháp công khai trợ cấp, đơn giản bằng trợ cấp tiền mặt. Các nước Châu âu đã giảm giá xuất khẩu ngũ cốc 35%  so với giá nội địa Achentina không thể trợ cấp xuất khẩu phải sử dụng đến biện pháp triết khấu cao ở thị trường á châu.

Trợ cấp có thể dưới hình thức cho hưởng ưu đãi về tỷ giá ngoại hối. American Textile Manufacture institute Amalgamated Clothing and Textile Workers Unions và International Ladies Garment Workers Union khiếu kiện rằng các nhà xuất khẩu Trung Quốc nhận được trên 40% trợ cấp trong trợ cấp ưu đãi về tỷ giá chuyển đổi ngoại hối. Do đó các tổ chức lao động này đã nộp đơn kiến nghị đòi bù lại thuế.

Có nhiều kiểu trợ cấp ngầm khác. Việc giảm thuế cộng với các biện pháp hỗ trợ của Braxin cũng được coi là hình thức trợ cấp. Để thu hút các nhà sản xuất ôtô nước ngoài, Tennesse, Ohio, Michigan và Illinos đã xây dựng các nhà máy của mình ở những quốc gia đó và cung cấp các dịch vụ như xây dựng đường cao tốc, đào tạo nhân công, giảm thuế đó là trợ cấp trá hình để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

Lợi ích che chắn là một kiểu trợ cấp. Một quốc gia có thể cho phép công ty bảo vệ mình trước các công ty nước ngoài. Năm 1971, Mỹ cho phép các công ty thành lập các công ty hạ giá quốc tế trong nước mặc dù các công ty này chi trả trái phiếu Mỹ hơn 1 tỷ đô la trong doanh thu mỗi năm. GATT, hiệp định đa phương đã phán quyết rằng DISC là trợ cấp xuất khẩu bất hợp pháp. Luật mới của Mỹ cho phép các công ty đề ra các luật lệ chặt chẽ hơn để thành lập các tập đoàn bán hạ giá nước ngoài có cùng mục đích như DISC.

Do tất cả các quốc gia đều trợ cấp nên GATT cho phép trợ cấp đối với các  sản phẩm căn bản miễn là các sản phẩm đó không chiếm chỗ xuất khẩu của các quốc gia khác hoặc bán thấp hơn giá xuất khẩu.

Những sản phẩm cơ bản này là nông sản như các sản phẩm nông lâm ngư sản dưới dạng thô hoặc chế biến, thường bao gồm cả vận tải và Marketing như thịt đông lạnh và xông khói. Mức độ trợ cấp rất lớn. Chỉ số tiền thanh toán hàng nông sản trên toàn thế giới hơn 100 tỷ đô la mỗi năm trong đó Mỹ chiếm 26 tỷ đô la.

Hoa kỳ thường không trợ cấp xuất khẩu nhưng nó có một số chương trình trong nước bổ xung cho chương trình trang trại nhằm hỗ trợ nông dân. Nhìn chung mặc dù những chương trình này nhằm phục vụ cho các thương nhân nhưng các nhà xuất khâủ có thể sử dụng các chương trình này một cách có lợi cho mình nhờ việc giảm giá chi phí sản xuất. Hơn nữa, Hoa kỳ cho phép các công ty xuất khẩu Mỹ áp dụng điều 301 đối với các trường hợp liên quan đến trợ cấp của đối thủ cạnh tranh. Điều 301 của luật thương mại cho phép Mỹ trả đũa khi trợ cấp và các hoạt động thương mại của nước ngoài gây tổn thất xuất khẩu của Mỹ ở các thị trường ngoài Châu Âu. Chẳng hạn Mỹ đã trả đũa việc Chính phủ Pháp trợ cấp xuất khẩu lúa mì bằng việc bán 150 triệu đô la trợ cấp lúa mì cho Ai Cập là một thị trường của Pháp. Đến lượt Pháp lại thâm nhập vào thị trường của Mỹ (Như Nga, Braxin) và khiếu kiện tới tổ chức khác.ư

Việc tìm ra các giải pháp thoả đáng đối với các vấn đề trợ cấp không dễ dàng chút nào. Hầu như tất cả những vấn đề này đều liên quan đến sản phẩm chế biến do lợi nhuận thu được thông qua việc miễn giảm thuế đều đã đã được trả vào thuế gián thu nước ngoài. Các khoản trợ cấp càng làm cho vần đề thêm rắc rối do sự sở hữu tràn nan của Chính phủ . Chẳng hạn như hội đồng quốc gia Broiler đã kiện chính quyền Reagan để trả đũa trợ cấp Châu Âu đã giúp các công ty ở Châu Âu bán thấp hơn giá Mỹ 28% và chiếm 80 – 90% thị trường Trung Đông, Địa Trung Hải, Châu Phi và Cuba. Cổ phần của Mỹ ở Trung Đông vào những năm giữa thập kỷ 80 đã giảm từ 107 triệu đô la xuống còn 1 triệu đô la. Các hãng sản xuất thép của Châu Âu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu các công ty thép của Mỹ chứng minh được rằng các khách hàng truyền thống của họ bị các công ty Châu Âu giành giật bằng các khoản trợ cấp.

Mặc dù có luật thương mại Mỹ nhưng vẫn còn rất khó khăn để giải quyết các vấn đề về trợ cấp do có nhiều vấn đề còn mơ hồ. Chẳng hạn nó vẫn chưa quy định các khoản viện trợ chính phủ của nước ngoài để bù đắp thâm hụt sản xuất được tạo ra bởi các công ty nhà nước có được coi là trợ cấp xuất khẩu hay không theo luật Mỹ.

Giấy phép.

Không phải tất cả hàng hoá đều được tư do nhập khẩu. Nhập khẩu có kiểm soát yêu cầu phải có giấy phép nhập khẩu. Chẳng hạn việc nhập khẩu quân chủng, đạn dược, chất nổ vào Mỹ phải có giấy phép của các cơ quan Alcochol Tobacoo và Firearm cấp. Nhập khẩu rượu đã trưng cất, đồ uống có mạch nha phải có giấy phép nhập khẩu của các cơ quan trên. Nhập khẩu sữa và kem phải có giấy phép hợp pháp của viện chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. ấn Độ yêu cầu giây phép cho tất hàng hoá nhập khẩu. Họ cấm nhập khẩu sản phẩm riêng rẽ. Không dễ ràng để có giấy phép nhập khẩu nhất là từ khi nhiều quốc gia chỉ cấp giấy phép nhập khẩu cho các mặt hàng cần thiết.

Vào năm 1986, Nhật Bản đã đơn giản hoá các thủ tục giấy phép nhập khẩu. Trước đây Nhật yêu cầu phải có đơn xin cấp giấy phép cho bất kỳ một sản phẩm mỹ phẩm mới nào thậm chí đối với các sản phẩm chỉ khác nhau về mầu sắc, mức độ.

Những yêu cầu mới đã xếp loại mỹ phẩm thành 78 loại và liệt kê danh sách các thành phần được phép sử dụng. Người nhập khẩu chỉ cần đơn gian thông báo cho Chính phủ về bất kỳ sản phẩm mới nào có chứa các thành phần đó.

Kiểm tra. Kiểm tra là phần không thể thiếu được đối với các sản phẩm. Hàng hóa phải được kiểm tra để xác định chất lượng và số lượng. Bước này liên quan chặt chẽ đến các nguyên tắc khác và các thủ tục nhập khẩu. Thứ nhất, kiểm tra nhằm mục đích phân loại và xác định thuế nhập khẩu. Thứ hai, kiểm tra để biết liệu các sản phẩm nhập khẩu có phù hợp với các tài liệu được gửi kèm hày không và xem những mặt hàng đó có cần giấy phép không. Thứ ba kiểm tra để xem các sản phẩm có đáp ứng yêu cầu về an toàn hay không để đảm bảo chắc chắn các sản phẩm này phù hợp với mức tiêu dùng hay những sản phẩm có thể hoạt động an toàn. Các nhà nhập khẩu nên cẩn thận xác định số lượng và chất lượn sản phẩm cũng như mô tả chính xác hàng hoá. Bất kỳ một sự mô tả sai khác nào so với những nội dung trong hoá đơn bắt buộc phải có những biện pháp đo đạc và kiểm tra kỹ lưỡng sẽ tốn thời gian và chi phí. Kiểm tra có thể nhằm mục đích cố ý hạn chế nhập khẩu. Chẳng hạn gậy đánh bóng chày của Mỹ bán rất chạy ở thị trường Nhật. Nhưng cản trở lớn nhất là mỗi cây gậy đều phải được gián tem an toàn trong tiêu dùng và phải được xác minh chỉ sau khi kiểm tra rất tốn kém ở bến tàu.

Cách đây không lâu, các công ty Mỹ muốn xuất khẩu sang Nhật phải chấp nhận các cuộc kiểm tra tốn kém, mất thời gian cho mỗi chuyến hàng. Những thùng hàng của họ phải bị mở ra để kiểm tra tại cảng. Việc kiểm tra này buộc các công ty Mỹ  sản xuất ở nhật phải có giấy phép hoặc phải ngừng sản xuất.

Do các công ty Mỹ khiếu lại liên tục nên đã dẫn tới sự sửa đổi các điều luật cho phép các quan chức MITI kiểm tra các công ty Mỹ. Tuy nhiên do chi phí tốn kém các quan chức MITI không kiểm tra được các công ty vừa và nhỏ. Vấn đề đã được giải quyết khi MITI uỷ quyền cho Applied Research Loboratories một công ty Mỹ kiểm tra các nhà máy điện tử và nhà máy sản xuất các dụng cụ điện ở Mỹ. Toàn bộ thủ tục được hoàn tất trong vòng vài tháng và chỉ mất khoảng 2500 đô la.

Các quy định về sức khoẻ và an toàn.

Nhiều sản phẩm phải tuân theo các quy định về an toàn và sức khoẻ, những quy định rất cần thiết để bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và mội trường. Chẳng hạn trứng nhập khẩu vào Mỹ phải có chứng chỉ do viện Trưởng thú ý của nước xuất khẩu cấp xác nhận trứng tươi hợp vệ sinh và được đóng gói theo đúng quy định của viện kiểm tra sức khoẻ động thực vật. Trứng được sản xuất theo kiểu chăn nuôi bầy đàn không bị nhiễm bệnh NewCastle. Những hạn chế này nhằm mục đích bảo vệ gia cầm trong nước khỏi bị lây nhiễm bệnh từ nước ngoài. Các sản phẩm về thịt không được đưa vào lưu thông cho đến khi thanh tra củaviện kiểm tra sức khoẻ động thực vật kiểm tra và cấm nhập khẩu những sản phẩm thịt từ các quốc gia có bệnh lở mồm long móng.

Các quy định về an toàn và sức khỏe không chỉ giới hạn đối với sản phẩm nông nghiệp. Nó còn được áp dụng đối với các sản phẩm khác như vô tuyến, sóng micro, dụng cụ có tia X, sản phẩm laser và các sản phẩm điện tử khác liên quan đên bức xạ, thức ăn đồ uống, dược phẩm, mỹ phẩm, vải vóc … Những quy định về chống ô nhiễm và các tiêu chuẩn an toàn xe cộ của liên bang Mỹ đã làm cho xe hơi của Braxin không vào được thị trường Mỹ. Khái niện an toàn đã ngăn không cho nhập gậy đánh bóng chày bằng nhôm của Mỹ vào thị trường Nhật. Theo thiết kế sản xuất ở đầu gậy có một lỗ nhỏ  được bịt bằng nút cao su, Nhật cho rằng trong khi đánh bóng nút này có thể bật ra và làm bị thương mọi người. Theo các nhà chế tạo Mỹ thì điều này chẳng có gì đáng sợ. Đối với hàng hoá nhập khẩu vào một nước thì phải đáp ứng được các yêu cầu về sản phẩm do nước đó đặt ra. Những yêu cầu đối với sản phẩm có thể là những tiêu chuẩn hay đặc điểm kỹ thuật cũng như đóng gói, nhãn hiệu, đóng dấu.

Tiêu chuẩn sản phẩm : Mỗi quốc gia đều có những tiêu chuẩn sản phẩm riêng của mình để bảo vệ sức khoẻ và an toàn cho người tiêu dùng. Những tiêu chuẩn này có thể là rào cản để ngăn cản hoặc hạn chế nhập khẩu hàng hoá nước ngoài. Do những quy định về nhãn mác kích cỡ, chất lượng và độ chín muồi mà các sản phẩm nông nghiệp của Mehico không vào được thị trường Mỹ. Những tiêu chuẩn sản phẩm của Nhật còn chặt chẽ hơn, họ căn cứ vào các đặc điểm tính chất vật lý chứ không căn cứ vào cách thực hiện của sản phẩm. Những tiêu chuẩn này buộc phải xét duyệt sản phẩm nhiều lần khi có một sự thay đổi nhỏ về sản phẩm thậm chí cách vận hành sản phẩm. Thậm chí những tiêu chuẩn này thường xuyên thay đổi ở Nhật để hạn chế nhập khẩu. Đóng gói, dán nhãn, đóng dấu được tiến hành cùng nhau vì chúng có quan hệ mật thiết với nhau. Nhiêu sản phẩm phải được đóng gói theo cách nào đấy để đảm bảo an toàn và vì các lý do khác. Anh không nhập khẩu sữa của Pháp do yêu cầu phải bán theo đơn vị đo lường của chất lỏng chứ không theo đơn vị đo lường metric. Canada yêu cầu đồ hộp nhập khẩu phải được đóng trong hộp có kích cỡ theo quy định và có chỉ dẫn trên bao bì hoặc bằng tiêng anh hoặc tiếng pháp. Theo luật nhãn hiệu của Canada yêu cầu tất cả vải vóc nhập khẩu nhãn hiệu phải được ghi bằng 2 tiếng đó.

nếu một quốc gia quyết định bảo hộ tạm thời nền công nghiệp trong nước do bị những đe doạ nghiêm trọng, lập tức hàng loạt hàng rào bảo hộ mới được lập ra và áp dụng với tất cả các quốc gia thậm chí kể cả khi sự đe doạ đối với nền công nghiệp của nước đó chỉ đến từ một quốc gia khác. Như vậy, các nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (MFN) đã chuyển các quốc gia từ lợi ích song phương sang lợi ích đa phương (hay đồng thời nhiều lợi ích song phương). Mỗi quốc gia phải chấp nhận điều ngầm định rằng sự nhượng bộ của quốc gia này dành cho một quốc gia khác cũng có nghĩa là dành cho tất cả. Có một sự chấp nhận chung duy nhất là các quốc gia có lợi thế sẽ không tính đến những điều kiện tương hỗ đòi hỏi ở các quốc gia kém phát triển.

Hoa Kỳ không chấp thuận quy chế MFN cho các quốc gia cộng sản hạn chế di cư tự do, tuy vậy quy định này có thể bị tổng thống bãi bỏ. Vào năm 1986 Tổng thống Regan tiếp tục cho Trung Quốc, Hungari, Rumani hưởng quy chế này. Sau khi lần đầu tiên Trung Quốc nhận được quy chế đãi ngộ quốc gia của Hoa Kỳ vào năm 1980, nhập khẩu nấm từ Trung Quốc tăng vọt từ con số không lên 50% tổng lượng nấm nhập khẩu của Mỹ. Sự tăng trưởng này có được do sự giảm thuế nấm nhập từ 45% xuống 10%. Việc cho Trung Quốc hưởng quy chế MFN là một việc có ý nghĩa lớn, bởi cả những lý do chính trị. Đối với Liên Xô, mặc dù đã có quan hệ thương mại với Mỹ lâu hơn Trung Quốc, nhưng vẫn chưa nhận được quy chế này của Mỹ và vẫn lên án hành động này.

Theo GATT, một lý do chính đáng của thuế quan trong thương mại quốc tế là để bảo hộ công nghiệp trong nước. Các lý do chấp nhận được gồm có quốc phòng hay không liên quan đến kinh tế chẳng hạn tăng thu nhập. Ba lý do phi kinh tế khác là cải thiện cơ cấu thương mại, tăng doanh thu, cán cân thanh toán. Chính sách “ăn mày là của nhà hàng xóm” này đã tạo ra những khoản lợi nhuận thu được từ việc chi tiêu của các quốc gia khác không được GATT coi là một lý do chính đáng để từ chối việc cắt giảm thuế quan. Bất kỳ sự cải tiến hiệu quả nào đều thu được từ việc mở rộng các chính sách vĩ mô hơn là can thiệp vào tỷ lệ bảo hộ (chính sách vi mô cho việc phân bố các nguồn lực). Chính sách vĩ mô và vi mô có thể không kết hợp hay ảnh hưởng lẫn nhau. Các hình thức bảo hộ đưa ra bởi Hoa Kỳ dưới các công cụ bảo vệ của GATT kèm theo thuế quan (dụng cụ bàn ăn bằng gốm, ổ bi), cấm nhập (sữa khô đóng bao), hạn chế số lượng (thép không rỉ, dụng cụ hợp kim thép) và hạn chế song phương (tất).

Mặc dù GATT đã cơ bản hình thành tiến trình hợp lý hoá thuế quan nhưng hiện tại vẫn gặp phải những hình thức phi thuế như nhập khẩu bổ xung, hạn ngạch, những quy định bao bì, mua bán của chính phủ và chất lượng sản phẩm. Trên tinh thần nhượng bộ của các thành viên GATT sau 5 năm đàm phán giữa 90 quốc gia ở Giơnevơ (gọi là vòng đàm phán Tôkyô) đã đạt được thoả thuận giảm 35% cả hạn chế thuế quan lẫn phi thuế quan. Bản hiệp định này ảnh hưởng tới 80-90% các mối quan hệ thương mại trên thế giới, và tạo ra một khung pháp lý cơ bản để kiểm tra, thông báo, giải quyết tranh chấp, phát triển và đàm phán mở rộng ảnh hưởng.

Những thoả thuận chính gồm có:

Giảm hàng rào phi thuế quan, bao gồm cả phân biệt đối xử chống lại tình trạng phi quốc gia trong mua sắm của các cơ quan chính phủ.

Chấp nhận trợ cấp, đặc biệt là trợ cấp xuất khẩu nông sản. Cấm trợ cấp xuất khẩu trực tiếp đối với các sản phẩm phi nông nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp làm tổn hại đến các nước khác bằng cách xuất khẩu sang nước khác hay là nguyên nhân của sự giảm giá trên một thị trường (VD: EC trợ cấp xuất khẩu lúa mỳ sang Braxin và ấn Độ).

Các nhà sản xuất đặt ra định mức chất lượng sử dụng định mức tổng thể hơn là sử dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật chi tiết.

Sử dụng thống nhất phương pháp định giá hàng nhập, bãi bỏ phương pháp định giá của American Selling Price đối với việc định giá cao thuế nhập cho hoá chất benzen.

Một số chú ý trong chính sách bảo hộ.

Một quốc gia có thể lựa chọn mở cửa hay đóng cửa biên giới đối với thương mại. Nếu nhận được từ một hệ thống mở quốc gia này sẽ có nhiều cơ hội hơn cho việc phát triển kinh tế và tối đa hoá lợi nhuận cho người tiêu dùng. Với việc tiếp cận và nhận lấy điều này Hồng Kông đã trở thành một nền kinh tế vững, ngược lại đối với Anbani đã đóng cửa và chối bỏ hầu hết mọi…

Yêu cầu đối với sản phẩm

Sản phẩm phải được đánh dấu và dán nhãn đầy đủ, việc đánh dấu và dán nhãn có thể áp dụng cho cả sản phẩm lẫn bao bì đóng gói của hàng hoá.Một quan toà ở Italia đã ra lệnh tịch thu những chai Co ca bởi vì anh ta cảm thấy rằng thành phần được liệt kê trên nắp chai không được miêu tae và dán nhãn đầy đủ. Pháp yêu cầu mọi hàng hoá phải có dán nhãn xuất xứ và Mĩ cũng qui định như vậy.

Đối với mục đích vẩn tải và nhận dạng, bao bì đóng gói phải được đánh dấu người nhận hàng, cảng , số của bao bì.

Nhìn chung, qui định là việc đóng goi, đánh dấu, dán nhãn phải trung thực và đầy đủ thông tin không được gây ra ấn tượng sai sót nào. Ví dụ như viwcj vận chuyển đồng hồ đeo tay phải được đánh dấu để chỉ ra tên của nhà sản xuất, nước sản xuất, cũng như số trang sức trên đồng hồ bằng hệ thống số và từ của arap. Tất cả những sản phẩm dệt đa sợi phải được dán nhãn để chỉ ra tên chung và phần trăm trọng lượng của sợi cấu tạo, tên của nhà sản xuất, nước sản xuất. ở Singapo, không có những qui định đối với việc đánh dấu vá ghi nhãn đối với bao bì nhưng có những đòi hỏi riêng cho đồ ăn ưống, thuốc, dược phẩm, rượu, sơn, các loại dung môi.

Ví dụ, sơn và các loại dun môi phải có ghi nhãn cảnh báo. Đồ thực phẩm, rượu, cac s loại dung môi phải có nhãn bao gồm tên của nước xuất xứ. Những sản phẩm mỡ động vật không thể ăn được phải có nhãn sau: Khong dành cho con người sử dụng.

Kiểm tra sản phẩm: Có nhiều sản phẩm phải được kiểm tra để đảm bảo tính an toàn và phù hợp trước khi chúng được đanhs dấu. Đây là lĩnh vựcc khác mà  Mĩ gặp một số rác rối ở Nhật bản. Mặc dù sản phẩm có thể được công nhân ở bất kì đâu về tính an toàn và hiệu quả, những sản phẩm như dược phẩm, thiết bị sản xuất dược phẩm, hoá chất phải qua những cuộc kiểm tra tiêu chuẩn kĩ lưỡngmà có khi mất đến hàng mấy năm – đủ dài để các công ti Nhật phát triển sản phẩm cạnh tranh của mình. Hơn thế nữa, sự xem xétlại xảy ra ngay bên cạnh những cánh của đóng kín của bộ Sức khoẻ và phúc lơi.

Chi tiết kĩ thuật của sản phẩm: Những chi tiết kĩ thuật của sản phảm mặc dù biểu lộ ra là mmột quá trình vô hại, có thể được dùng để gây khó khăn cho việc nhập khẩu. Những chi tiết kĩthuật có thể được viết theo một cách nhằm ưu đãi những nhà thầu trong nước và bắt các nhà cung cấp nước ngoài phải đúng ở bên ngoài. Ví dụ, chi tiết kĩ thuật có thể hoàn toàn chi tiết, hoặc chúng có thể được viết giống với những sản phẩm trong nước. Vì vậy, chúng có thể được sử dụng để chống lại các nhà sản xuất nước ngoài. những người mà khong thể đáp ứng được những chi tiết kĩ thuật mà không có sự biến đổi dài hoặc đắt tiền. NTT của Nhật Bản có thể sử dụng những chi tiết kĩ thuật của sản phẩm như một hàng rào được xây leen khi  nó bị buộc phải chấp nhận quyền đấu thầu từ các nhà cung cấp nước ngoài. Khi đó , nó dã không cung cấp  chi tiết kĩ thuật cũng như chi tiết đấu thầu bằng bất kĩ thứ tiếng nào ngoài tiếng Nhật. NHững chi tiết kĩ thuậtcủa nó thì có tính gới hạn cao được viết với những sản phẩm của Nhật Bản ddang tồn tại. Thay thế cho những đặc điểm chức năng chung, NTT quá cá biệt những nét vật lí định vị những lỗ thông gió, chi tiết đó hoàn toàn đúng với những chi tiết của sản phẩm của Nippon Elẻctic. Ví dụ nhưNTT yêu cầu vỏ kim loại cho moderm khi mà hầu hết nhuẽng nhà sản xuất Mĩ sử dụng vỏ plastic. Các bộ phận phải được làm bởi người Nhật để đủ khả năng đấu thàu.Nhìn chung NTT đãthành công nhờ vào nhưng qui định về chi tiết kĩ thuật đối với đặc tính. GATT đã thiết lập nhứng thủ tục nhằm tạo ra một tiêu chuẩn về sản phẩm dùng nhiều những tiêu chuảan về đặc tính hơn là những chi tiết kĩ thuật vật lí cụ thể.

Hạn ngạch:

Hạn nghạch là một công cụ kiểm soát số lượng hàng nhập khẩu, chúng là những điều khoản giới hạn số lượng sản phẩm nước ngoài được nhập khẩu để bảo vệ các hãng sản xuất trong nước và bảo toàn ngoại tệ. Hạn nghạch có thể được sử dụng để kiểm soát xuất khẩu. Một hạn nghạch xuất khẩu đôi khi bị đòi hỏi bởi kế hoạch quốc gia nhằm duy trì , bảo vệ nguồn tài nguyên quí hiếm trong nước. Ví dụ như Thái Lan giới hạn xuất khẩu gỗ tếc ở dạng nguyen liêu thô nhưng cho phép xuất khẩu những sản phẩm được chế biến cuối cùng từ gỗ tếch. Từ lập trường của chính sách, hạn nghạch không đáng mông muốn bằng thuế khi mà hạn nghạch thì không tạo ra thu nhập cho chính phủ. Theo Viện Kinh tế thế giới, hạn nghạch và thuếlàm cho người tiêu dùng Mĩ tốn đến 56 tỉ USD năm 1984.

Có 3 loại hạn nghạch: vô điều kiện, thuế, tự nguyện.

Hạn nghạch vô điều kiện: hạn nghạch vô điều kiện làloại hạn nghạch có tính giới hạn cao nhất. Nó giới hạn bằng những điều kiện số lượng được nhập khẩu trong suốt một kì hạn hạn nghạch. Khi đã bị đưa vào hạn nghạch này thì mội cửa vào đều bị cấm. Một số hạn nghạch mang tính toàn cầu, nhưng những hạn nhạch khác được chỉ định rõ cho các nước ngoại cụ thể. Nhật Bản áp đặt hạn nghạch hà khắc lên cam và thịt bò. Để nhân nhượng EC, nó đã nâng hạn nghạch về sữa bột không kem và thuốc lá từ Châu Âu. Điều khắc nghiệt nhất của hạn nghchj này là sự cấm vận hay hạn nghạch không được chỉ ra trong trưoừng hợp Mĩ áp dụng với Việt nam và bắc Triều Tiên.

Hạn nghạch thuế quan: Một hạn nghạch thuế quan cho phép sự đi vào của một số lượng giới hạn của sản phẩm có hạn nghạch tại một tỉ lệ đã bị giảm của thuế. Số lượng mà vượt quá hạn nghạch có thể được nhập khẩu nhưng sẽ bị đảng thuế ở tỉ lệ cao hơn. Thông qua viếcử dụng hạn nghạch, sự kết nối giữa thuế và hạn nghạch được áp dụng với mục đích căn bản là nhập khẩu những gì cần thiết và không khuyến khích phần vượt quá thông qua thuế quan cao. Khi Mĩ tăng thuế quan áp dụng đối với xe máy nhập khẩu nhằm bảo vệ nghành công nghiệp xe máy ở Mĩ, nó đã miễn thuế này cho 6000 chiếc môtô lớn đầu tiên nhập từ Nhật Bnả và 4000-5000 chiếc đầu tiên nhập từ Châu Au. Minh hoạ 3 – liệt kê những sản phẩm đưa ra hạn ngạch thuế quan và hạn ngạch vô điều kiện.

            Hạn ngạch tự nguyện: Một hạn nghạch tự nghuyện khác với những loại hạn ngạch khác là ở chỗ hai loại kia là được áp dụng đơn phương. Một hạn ngạch tự nghuyện là một thoả thuận chính thức giữa 2 nước hoặc giữa một nước với một nghành của nước khác. Thoa thuận này thường chỉ rõ giới hạn cung cấp sản phẩm, quốc gia, và khối lượng hàng hoá.

2 loại hạn nghạch tự nnghuyện có thể phân biệt theo luật là VER  ( hạn chế nhập khẩu tưẹ nguyện) và OMA ( thoả thuận marketing theo lệnh). Trong khi một OMA liên quan đến sự đàm phán giữa 2 chính phủ nhằm cụ thể những nguyên tắc quản lí xuất khẩu, kiểm soát khối lượng giao dịch, và các quyền bàn bạc, một VER là một thoả thuận trực tiếp giữa chính phủ nước nhập khẩu và một nghành của nước xuất khaảu( ví dụ như hạn ngạch đối với sự tham gia của một ngành). Cả hai đều có thể khiến nước nhập khẩu phá vỡ những nguyên tắc của GATT ( bài !() mà đòi hỏi các nước đáp lại hạn ngạch đã nhận được và áp dụng sự bảo hộ thị trường đó lên một cơ sở Tối huệ quốc.Bởi vì đây là một khu vực ảm đạm, OMA và VER có thể được áp dụng ở một cách không gây hại cho một nước nào đó. Trong trường hợp một VER liên quan đến những ngành cá nhân, sự vạch trần nơi công cộng là không cần thiết