Hệ quả của thông tin bất cân xứng là gì?

1. Lựa chọn nghịch
*Khái niệm lựa chọn nghịch
Lựa chọn nghịch (hay còn gọi là lựa chọn ngược, lựa chọn trái ý, lựa chọn bất lợi) là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện giao dịch hay nói cách khác trước khi ký hợp đồng .
Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi thực hiện giao dịch mà bên có nhiều thông tin có thể gây ra tổn hại cho bên có ít thông tin hơn. Lựa chọn bất lợi là một tình trạng kinh tế có thể nảy sinh do tồn tại tình trạng thông tin bất cân xứng, người lựa chọn thứ tốt lại chọn phải thứ không tốt. Trong điều kiện thông tin đối xứng, các bên trong giao dịch nắm thông tin ngang nhau và đầy đủ về thứ được giao dịch. Khi đó, người ta có thể tìm được thứ tốt hoặc thứ tương xứng với cái giá mà họ phải bỏ ra. Nhưng trong nền kinh tế cạnh tranh không hoàn hảo, thông tin bất đối xứng thì kết quả lại hoàn toàn ngược lại. Bên không có lợi về thông tin phải gánh chiu nhiều rủi ro, nghĩa là một bên trong giao dịch có nhiều thông tin về sản phẩm giao dịch hơn bên kia, người có ưu thế về thông tin có thể cung cấp những thông tin không trung thực về sản phẩm được giao dịch cho bên kém ưu thế thông tin. Kết quả là, bên kém ưu thế về thông tin đồng ý hoàn thành giao dịch và nhận được thứ không như mình mong muốn.
Trong thực tế có rất nhiều thị trường xảy ra bất đối xứng thông tin điển hình là thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm, thị trường mua bán đồ cũ…
* Lựa chọn nghịch trong thị trường chứng khoán:
Mục đích của đầu tư chứng khoán là lợi nhuận. Trong thị tường chứng khoán lợi nhuận được biểu hiện ở giá trị cổ tức mà nhà đầu tư nhận được hay sự chênh lệch giữa giá bán và giá mua cổ phiếu. Trường hợp nhà đầu tư thất bại trong mục tiêu của mình (hoạt động đầu tư không đem lại lợi nhuận hoặc thua lỗ). Nguyên nhân  không hẳn đổ lỗi hoàn toàn cho những biến động bất ngờ trên thị trường, mà ít nhiều đã tồn tại thông tin bất cân xứng, và hệ quả của nó là chi phí lựa chọn bất lợi mà nhà đầu tư phải gánh chịu.
Thông thường trong hoạt động mua bán chứng khoán, người bán (các công ty niêm yết) là người nắm rõ thông tin về những hoạt động kinh doanh của công ty mình hay nói cách khác họ biết rất rõ giá trị thật của cổ phiếu. Tuy nhiên, thông tin về hoạt động tài chính, kinh doanh lại không được chia sẻ đầy đủ cho nhà đầu tư. Do đó dẫn đến tình trạng nhà đầu tư đánh giá không chính xác giá trị cổ phiếu. Thế nên, nếu nhà đầu tư định giá cao hơn giá trị thực của cổ phiếu thì sự bất lợi hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư.
Một ví dụ điển hình cho việc lựa chọn nghịch trên thị trường chứng khoán: Công ty dược Viễn Đông. Sau vụ phá sản của công ty dược Viễn Đông, gần 2000 cổ đông bị mất trắng cổ phần. Lý giải nguyên nhân là do công ty này đã che dấu tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh  đang đi xuống của mình, nhằm huy động thêm vốn. Đặc biệt, sự mờ ám thông tin cùng với những hoạt động làm giá của hội đồng quản trị đã đẩy các nhà đầu tư vào tình trạng trắng tay.
2. Tâm lý ỷ lại
* Khái niệm
Tâm lý ỷ lại (hay còn gọi là rủi ro đạo đức) là kết quả của hành vi bị che đậy và xuất hiện sau khi ký hợp đồng. Tâm lý ỷ lại là một thuật ngữ kinh tế học và tài chính được sử dụng để chỉ một loại rủi ro phát sinh khi đạo đức của chủ thể kinh tế bị suy thoái.
Tâm lý ỷ lại là một kiểu thất bại thị trường nảy sinh trong môi trường thông tin bất cân xứng. Nó còn là hình thức cơ hội chủ nghĩa sau hợp đồng, phát sinh do các hành động có tác động đến hiệu quả nhưng lại không dễ dàng quan sát được và vì thế những người thực hiện các hành động này có thể chọn theo đuổi những lợi ích cá nhân của mình trên cơ sở gây tổn hại cho người khác. Tâm lý ỷ lại nảy sinh khi bên có ưu thế thông tin hiểu được tình thế thông tin phi đối xứng giữa các bên giao dịch và tự nhiên hình thành động cơ hành động theo hướng làm lợi cho bản thân bất kể hành động đó có thể làm hại cho bên kém ưu thế thông tin.
*Tâm lý ỷ lại trong thị trường chứng khoán
Đầu tư trên thị trường chứng khoán là hình thức các nhà đầu tư góp vốn với công ty niêm yết nhằm hưởng cổ tức do lợi nhuận trong quá trình sản xuất kinh doanh của công ty mang lại. Như vậy tâm lý ỷ lại phát sinh nếu những người đại diện điều hành công ty không sử dụng nguồn vốn đúng mục đích hoặc không hiệu quả. Tâm lý ỷ lại của người đại diện sẽ gia tăng nếu như tỷ lệ cổ phần mà họ sở hữu thấp bởi vì nếu hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả thì trách nhiệm của họ không cao và sự thiệt hại trên vốn góp là thấp. Hoặc trong một số  trường hợp những người đại diện vì theo đuổi mục đích nào đó để làm lợi riêng cho bản thân mà gây tổn hại đến lợi ích của các nhà đầu tư thì các nhà đầu tư-bên kém ưu thế về thông tin sẽ là người gánh chịu những rủi ro phát sinh .