Hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
5 (100%) 1 vote

 

Hệ thống chính trị nói chung là “một cơ cấu bao gồm nhà nước, các đảng phái, các đoàn thể, các tổ chức chính trị tồn tại và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật hiện hành, được chế định theo tư tưởng giai cấp cầm quyền, nhằm tác động vào các quá trình kinh tế – xã hội với mục đích duy trì và phát triển chế độ đó”. Xuất phát từ bản chất của chế độ chính trị và những điều kiện lịch sử  cụ thể, hệ thống chính trị của mỗi nước cũng có những đặc thù riêng. Hệ thống chính trị của nước ta hình thành và phát triển trong quá trình đấu tranh cách mạng, chính thức ra đời từ cách mạng tháng Tám và ngày càng hoàn thiện.

Theo những qui định trong chương I, Hiến pháp năm 1992, hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Công đoàn, Hội nông dân , Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội khác hoạt động trên cơ sở lấy giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản để thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.

*Vị trí, vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong hệ thống chính trị

Lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển nhà nước ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên xô và các nước Đông Âu trước đây đã chỉ ra rằng: “Khi Đảng của giai cấp công nhân bị mất quyền lãnh đạo nước, thì chính quyền cũng không còn nằm trong tay nhân dân và chế độ xã hội thay đổi” (Trích văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII). Vì thế, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định việc giữ vững bản chất giai cấp của nhà nước.

Đảng cộng sản là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị nhưng Đảng là hạt nhân của hệ thống đó. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, vị trí hạt nhân và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị lại càng thể hiện một cách rõ nét và đầy đủ. Đương nhiên để giữ được vị trí và vai trò của mình, Đảng “phải vững mạnh về chính trị, tư  tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực lãnh đạo” (trích trang 22 – “Đảng cộng sản Việt Nam – Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội “ NXB. Sự thật – 1991). Trong lịch sử Hiến pháp Việt Nam, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hệ thống chính trị luôn được thể hiện trong các bản Hiến pháp. Tuy nhiên, cách thể hiện có khác nhau:

Hiến pháp năm 1946 mặc dù thực tế cách mạng vẫn dưới sự lãnh đạo đạo của Đảng, của giai cấp công nhân nhưng do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ chưa đề cập công khai. Biểu hiện là chế định Chủ tịch nước thể hiện tập trung quyền lãnh đạo của Đảng (Hồ Chủ Tịch là người sáng lập đồng thời là vị Chủ tịch đầu tiên). Ở đây sự lãnh đạo của Đảng được đảm bảo bằng người đứng đầu Đảng đồng thời là người đứng đầu bộ máy nhà nước; thông qua đó mà đường lối, chính sách và quan điểm của Đảng được thực hiện và trở thành hiện thực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

Hiến pháp năm 1959 đã thể hiện quyền lãnh đạo của Đảng một cách công khai mặc dù chỉ trong Lời nói đầu: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh… Nhân dân ta nhất định xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh…”

Hiến pháp năm 1980 đã thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng một cách cụ thể và mạnh mẽ hơn (cả trong lời nói đầu và Điều 4 Hiến pháp). Lần đầu tiên, thuật ngữ mới “Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng “ được sử dụng.

Hiến pháp năm 1992 đã có cách thể hiện ngắn gọn hơn, chặt chẽ hơn đồng thời cũng đúng mức hơn vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều 4 ghi rõ: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật “.

Về thực chất, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là lãnh đạo chính trị mang tính định hướng, tạo điều kiện để Nhà nước và các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị có cơ sở để chủ động sáng tạo trong tổ chức và hoạt động bằng những công cụ, phương pháp và biện pháp cụ thể cuả mình. Phương pháp để thực hiện nhữngnhữngquyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là những phương pháp dân chủ, giáo dục, thuyết phục và dựa vào uy tín, năng lực của các Đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng.

So với các Đảng chính trị cầm quyền trong các nhà nước khác, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội có những đặc trưng riêng như: Quyền lãnh đạo của Đảng được ghi nhận trong Hiến pháp; cơ sở chính trị xã hội của Đảng rất rộng rãi; sự lãnh đạo của Đảng được tất cả các tổ chức chính trị xã hội thừa nhận; Đảng là đại biểu trung thành cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc… Vì vậy, những chủ trương và quan điểm lớn của Đảng thường được mọi tầng lớp nhân dân quan tâm, tham gia góp ý kiến từ khi soạn thảo và tích cực ủng hộ, tổ chức thực hiện trên thực tế.

Những năm vừa qua, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đã có nhiều tiến bộ, tạo tiền đề cho việc kiện toàn và phát huy vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, xây dựng và đổi mới hệ thống chính trị, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tuy nhiên, sự lãnh đạo của Đảng vẫn chưa được tăng cường đúng mức. Tình trạng Đảng viên làm thay, can thiệp sâu vào công việc thuộc chức năng của Nhà nước vẫn còn tồn tại, chưa phát huy hết khả năng của các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị và quyền làm chủ của nhân dân. Để khắc phục khuyết điểm này, Đảng ta đã chủ trương và kiên quyết tự đổi mới và chấn chỉnh, phát huy ở tầm cao hơn bản lĩnh và sức chiến đấu của Đảng đặc biệt là về năng lực tổ chức, chỉ đạo thực hiện, vươn lên ngang tầm đòi hỏi đối với trách nhiệm lãnh đạo đất nước trong giai đoạn mới.

* Nhà nước có vị trí trung tâm và vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị nước ta.

Bởi vì quyền lực chính trị bao giờ cũng thể hiện tập trung ở quyền lực nhà nước, tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị về căn bản luôn phải dựa trên cơ sở của pháp luật do Nhà nước ban hành, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị phụ thuộc rất nhiều vào sức mạnh và hiệu lực quản lý Nhà nước, Nhà nước là một bộ phận hợp thành của hệ thống chính trị nhưng nó luôn đứng ở vị trí trung tâm của hệ thống đó và giữ vai trò quan trọng, là công cụ để thực hiện quyền lực nhân dân, giữ gìn trật tự kỷ cương và bảo đảm công bằng xã hội.

So với các tổ chức thành viên khác của hệ thống chính trị, Nhà nước có những đặc điểm (cũng có thể gọi là ưu thế) sau đây:

+ Nhà nước là đại diện chính thức của toàn bộ dân cư, là tổ chức rộng lớn nhất trong xã hội; Nhà nước quản lý tất cả mọi công dân và cư dân trong phạm vi lãnh thổ của mình.

+ Nhà nước có chủ quyền tối cao trong lĩnh vực đối nội cũng như đối ngoại, có bộ máy quyền lực và có sức mạnh để bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị và bảo vệ chế độ chính trị của nhà nước.

+ Nhà nước có pháp luật, công cụ có hiệu lực nhất để thiết lập trật tự kỷ cương, quản lý mọi mặt đời sống xã hội.

+ Nhà nước là chủ sở hữu lớn nhất trong xã hội, có đủ điều kiện và sức mạnh vật chất để tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị, quản lý đất nước và xã hội; đồng thời Nhà nước còn có thể bảo trợ cho các tổ chức khác trong hệ thống chính trị để thực hiện các hoạt động của mình.

Qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Nhà nước ta luôn giữ vị trí trung tâm của hệ thống chính trị, phát huy vai trò lớn trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, là công cụ chủ yếu để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” đã được ghi nhận trong tất cả bốn bản Hiến pháp, là cơ sở để tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh:” Nước ta là một nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân… quyền hành và lực lượng đều ở nhân dân”.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm và những thành tựu đã đạt được, Nhà nước ta còn bộc lộ nhiều khuyết điểm và yếu kém như: Tổ chức bộ máy cồng kềnh; nạn quan liêu, lãng phí, tham nhũng còn nghiêm trọng; việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ còn yếu; đội ngũ và trình độ cán bộ, công chức nhìn chung chưa ngang tầm với nhiệm vụ… hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chưa tạo đủ khuôn khổ pháp lý cần thiết; việc thi hành pháp luật chưa nghiêm, kỷ luật, kỷ cương còn lỏng lẻo. Để củng cố và kiện toàn bộ máy nhà nước ta cần phải thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng sau đây:

+ Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trên hai bình diện căn bản là: Đẩy mạnh hoạt động lập pháp của Quốc hội và tăng cường công tác giám sát của Quốc hội.

+ Thực hiện việc cải cách nền hành chiïnh nhà nước trên ba hướng là: Cải cách thể chế hành chính; chấn chỉnh tổ chức bộ máy và qui chế hoạt động của bộ máy hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ngang tầm với nhiệm vụ.

+ Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp.

+ Phát huy quyền làm chủ nhà nước của nhân dân.

+ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.

* Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên

Những tổ chức chính trị – xã hội hay đoàn thể quần chúng lớn, có ảnh hưởng sâu rộng như Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Công đoàn, Hội nông dân, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam… là các bộ phận hợp thành hệ thống chính trị.

Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên có vai trò quan trọng. Điều 9 Hiến pháp ta qui định: Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của nó là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, giáo dục và động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ đất nước, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc.

Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt nam tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt nam, cùng với các cơ quan nhà nước, công đoàn chăm lo đời sống và bảo đảm quyền lợi của công nhân viên chức.

Hội nông dân Việt nam là tổ chức đoàn kết, giáo dục nâng cao ý thức và năng lực làm chủ của nông dân nhằm hướng dẫn những người sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội. Hội nông dân Việt nam kiến nghị với nhà nước những vấn đề cần thiết trong chính sách nông nghiệp, giúp đỡ nhà nước trong việc xây dựng pháp luật quản lý nông nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân.

Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức giáo dục và rèn luyện thế hệ trẻ, là đội hậu bị, là cánh tay đắc lực của Đảng, đồng thời cũng là nguồn cung cấp cán bộ trẻ cho các cơ quan nhà nước và các tổ chức quần chúng.

Hội liên hiệp phụ nữ là tổ chức đoàn kết rộng rãi, động viên giáo dục các tầng lớp phụ nữ, thực hiện sự bình đẳng của mình với nam giới đồng thời nhận thức rõ vai trò đặc biệt của phụ nữ trong việc làm mẹ và giáo dục các thế hệ thanh thiếu niên.

Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc và các thành viên Mặt trận là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân có những nhiệm vụ quan trọng sau đây:

+ Tham gia thành lập các cơ quan nhà nước

Điều  30 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 26 Luật bầu cử Hội đồng nhân dân đều qui định: Mặt trận tổ quốc Việt Nam chủ trì việc hiệp thương với các tổ chức xã hội khác để giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác trong Mặt trận là những thành viên trong các tổ chức bầu cử như Hội đồng bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử…

+ Tham gia xây dựng pháp luật

Hiến pháp nước ta qui định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình các dự án luật trước Quốc hội và trình các dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.

+ Tham gia quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước

Hiến pháp qui định các tổ chức xã hội có quyền tham gia vào các công việc nhà nước, tham gia quản lý nhà nước. Luật tổ chức Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Toà án,  Luật tổ chức Viện kiểm sát, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cùng nhiều luật khác đều có qui định về vấn đề này.

+ Tham gia tuyên truyền Hiến pháp và pháp luật, giáo dục công dân ý thức chấp hành pháp luật, đấu tranh bào vệ pháp luật, bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân.

Trong đời sống chính trị đất nước ta, Mặt trận và các tổ chức thành viên của Mặt trận có vai trò rất quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • he thong nha nuoc viet nam
  • các cơ quan trong hệ thống chính trị nước ta
  • hê thông chinh tri gôm nhưng cơ quan nao
  • hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa nước ta ra đời vào năm
  • hệ thống chính trị xhcn của vn ra đời khi nào
  • ,