Hệ thống thanh toán giữa các ngân hàng ở Việt Nam

Đánh giá bài viết

Tổ chức hệ thống thanh toán giữa các ngân hàng ở Việt Nam gắn liền với việc hoàn thiện mô hình tổ chức của các hệ thống ngân hàng Việt Nam qua các thời kỳ:

– Thời kỳ trước năm 1989: Thời kỳ này hệ thống ngân hàng Việt Nam tổ chức thành ngân hàng 1 cấp (không tách biệt giữa NHNN và các TCTD), nên hệ thông thanh toán vốn giữa các chi nhánh ngân hàng cũng chỉ có một hệ thống. Phương thức thanh toán vốn giữa các NH được sử dụng là phương thức THANH TOÁN LIÊN CHI NHÁNH NGÂN HÀNG, trong đó các chi nhánh trong hệ thống trực tiếp chuyển tiền thanh toán vốn với nhau, ngân hàng trung ương làm nhiệm vụ kiểm soát, đối chiếu liên hàng cho toàn hệ thống.

– Thời kỳ từ 1989 đến nay: Thời kỳ này nền kinh tế nước ta đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, theo đó hệ thống NH 1 cấp cũng được chuyển thành NH 2 cấp với nhiều hệ thống khách nhau như hệ thống NH Nhà nước, các hệ thống Ngân hàng thương mại… Việc cân đối vốn, điều hoà vốn được tổ chức theo từng hệ thống, do vậy mỗi hệ thống NH đã tổ chức 1 hệ thống thanh toán để giải quyết quan hệ thanh toán trong nội bộ hệ thống.

Ngoài thanh toán nội bộ của từng hệ thống NH, có hệ thống thanh toán liên ngân hàng để giải quyết quan hệ thanh toán vốn giữa các đơn vị ngân hàng khác hệ thống.

Trong thời kỳ kinh tế mở, mối quan hệ kinh tế giữa các vùng, miền, khu vực không ngừng tăng lên. Khoa học tính toán, kỹ thuật điện tử không ngừng phát triển nên xu hướng chung là phải mở rộng hệ thống thanh toán liên ngân hàng với các trung tâm thanh toán hiện đại để đảm bảo thanh toán liên ngân hàng trong phạm vi khu vực và toàn quốc đạt hiệu quả cao.

Các phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng ở Việt Nam hiện nay tương đối phong phú, gồm:

+ Thanh toán liên chi nhánh ngân hàng trong cùng hệ thống (bằng giấy và điện tử).
+ Thanh toán bù trừ khác hệ thống (bằng giấy và điện tử).
+ Thanh toán điện tử liên ngân hàng
+ Uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ.
+ Mở tài khoản lẫn nhau để thanh toán.

Sau đây trình bày khái quát nội dung các phương thức thanh toán:

1. Thanh toán liên chi nhánh ngân hàng (TTLCNNH)

Thanh toán liên chi nhánh ngân hàng là phương thức thanh toán vốn giữa các chi nhánh ngân hàng trong cùng một hệ thống ngân hàng.

Thực chất của thanh toán liên chi nhánh ngân hàng là việc chuyển tiền từ chi nhánh ngân hàng này đến chi nhánh ngân hàng khác để phục vụ thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ của hai khách hàng (mua và bán) khi cả hai khách hàng không cùng mở tài khoản ở một chi nhánh ngân hàng: hoặc là chuyển cấp vốn, điều hoà vốn trong nội bộ một hệ thống ngân hàng.
Tuỳ theo đặc điểm của từng hệ thống ngân hàng để tổ chức hệ thống thanh toán liên chi nhánh ngân hàng một cách thích hợp. Chẳng hạn có những hệ thống ngân hàng tổ chức hệ thống thanh toán liên chi nhánh ngân hàng toàn hệ thống, nhưng có một số hệ thống ngân hàng bên cạnh hệ thống TTLCNNH toàn hệ thống, có thời gian, các ngân hàng còn thiết lập thêm hệ thống TTLCNNH nội tỉnh để phục vụ cho việc thanh toán giữa các chi nhánh ngân hàng trong cùng một tỉnh, một thành phố và thực hiện kiểm soát, đối chiếu liên chi nhánh ngân hàng nội tỉnh theo sự uỷ quyền của cấp TW (Hội sở chính).

Hiện nay ở Việt Nam có các hệ thống TTLCNNH sau:

1- Hệ thống TTLCNNH (chuyển tiền điện tử) của NHNN.
2- Các hệ thống TTLCNNH của 4 ngân hàng thương mại nhà nước
3- Các hệ thống TTLCNNH của các ngân hàng thương mại cổ phần.
4- Các hệ thống TTLCNNH của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
5- Hệ thống thanh toán của Kho bạc Nhà nước.

Vấn đề mấu chốt của TTLCNNH là phải xác định phương thức KIỂM SOÁT và ĐỐI CHIẾU trong thanh toán, bởi lẽ kiểm soát và đối chiếu trong TTLCNNH chẳng những đảm bảo cho số liệu trong TTLCNNH được hoàn toàn chính xác, an toàn tài sản mà còn kiểm soát nguồn vốn của các đơn vị ngân hàng tham gia thanh toán (các chi nhánh ngân hàng tuy là những đơn vị trực thuộc những là đơn vị hạch toán nội bộ nên khi tham gia thanh TTLCNNH phải có nguồn vốn để đảm bảo cho các khoản thanh toán của đơn vị mình). Xuất phát từ điều kiện cụ thể của Việt Nam và để từng bước hội nhập với các ngân hàng khu vực và quốc tế, ngân hàng Việt Nam đã áp dụng 3 phương thức kiểm soát, đối chiếu:

– Từ năm 1951 (khi thành lập NHQG Việt Nam) đến năm 1962 áp dụng phương thức “Đại lý liên hàng”. Nội dung chủ yếu của phương thức này là các chi nhánh ngân hàng trực tiếp gửi chuyển tiền cho nhau, ngân hàng TW làm nhiệm vụ kiểm soát và đối chiếu thông qua các tài khoản liên hàng phản ánh trên bảng cân đối tài khoản hàng tháng của các chi nhánh gửi về NHTW.

– Từ năm 1963 đến nay áp dụng 2 phương thức là “KIỂM SOÁT TẬP TRUNG, ĐỐI CHIẾU PHÂN TÁN” và “KIỂM SOÁT TẬP TRUNG, ĐỐI CHIẾU TẬP TRUNG”. Cả 2 phương thức đều áp dụng mô hình chữ “V” ngược. Theo mô hình này thì ngoài 2 chi nhánh tham gia thanh toán còn có trung tâm thanh toán làm nhiệm vụ kiểm soát, đối chiếu tất cả các khoản chuyển tiền thanh toán trong hệ thống và theo dõi nguồn vốn của các chi nhánh để thực hiện thanh toán vốn giữa các chi nhánh khi có một khoản chuyển tiền thanh toán xảy ra.

+ Phương thức “Kiểm soát tập trung, đối chiếu phân tán”: Theo phương thức này, các chi nhánh trực tiếp gửi chuyển tiền cho nhau, trung tâm thanh toán làm nhiệm vụ kiểm soát tất cả các chuyển tiền sau đó lập sổ đối chiếu gửi các chi nhánh nhận chuyển tiền để ngân hàng này đối chiếu (đối chiếu phân tán ở các ngân hàng nhận chuyển tiền)

Sơ đồ phương thức “Kiểm soát tập trung, đối chiếu phân tán”

Phương thức này áp dụng trong TTLCNNH truyền thống.

+ Phương thức “Kiểm soát tập trung, đối chiếu tập trung”: Theo phương thức này, ngân hàng chuyển tiền gửi chuyển tiền cho ngân hàng nhận chuyển tiền thông qua Trung tâm thanh toán (truyền qua mạng), Trung tâm thanh toán làm nhiệm vụ kiểm soát và đối chiếu tất cả các chuyển tiền trong toàn hệ thống.

Sơ đồ phương thức “Kiểm soát tập trung, đối chiếu tập trung”.

Phương thức kiểm soát tập trung, đối chiếu tập trung được áp dụng trong thanh toán liên hàng điện tử.

Sự phát triển của công nghệ thông tin và những ứng dụng rộng rãi của nó trong lĩnh vực ngân hàng đã tạo điều kiện cho các ngân hàng Việt Nam chuyển từ thanh toán liên hàng truyền thống sang thanh toán liên hàng điện tử nhằm xử lý các khoản thanh toán chuyển tiền một cách nhanh chóng, chính xác, an toàn và quản lý chặt chẽ vốn trong thanh toán.

2. Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng

Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng (TTBT) là phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng được thực hiện bằng cách bù trừ tổng số phải thu, phải trả và trên cơ sở đó chỉ thanh toán với nhau số chênh lệch (kết quả bù trừ). TTBT phát sinh trên cơ sở các khoản tiền hàng hoá, dịch vụ của hách hàng mở TK ở các NH khác nhau hoặc thanh toán vốn của bản thân ngân hàng. TTBT được áp dụng giữa các ngân hàng khác hệ thống với nhau (TTBT khác hệ thống) hoặc có thể áp dụng giữa các đơn vị ngân hàng thuộc cùng một hệ thống ngân hàng (TTBT cùng hệ thống). Tùy thuộc vào phương pháp trao đổi chứng từ, chuyển số liệu mà có cơ chế TTBT trên cơ sở chứng từ giấy (TTBT giấy) và TTBT điện tử.

TTBT giấy có một số đặc trưng về tổ chức và kỹ thuật nghiệp vụ như sau:

– Các ngân hàng, tổ chức tín dụng và Kho bạc Nhà nước, kể cả các chi nhánh và đơn vị trực thuộc được phép làm dịch vụ thanh toán (sau đây gọi chung là ngân hàng) tham gia TTBT được gọi là ngân hàng thành viên. Các ngân hàng thành viên phải mở tài khoản tại ngân hàng chủ trì. Đối với TTBT khác hệ thống thì các ngân hàng thành viên phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng chủ trì là NHNN trên địa bàn.

– Ngân hàng chủ trì chịu trách nhiệm tổng hợp kết quả thanh toán của các ngân hàng thành viên và thanh toán số chênh lệch trong TTBT cho từng ngân hàng thành viên. Ngân hàng chủ trì được quyền chủ động tính TK tiền gửi của các NH thành viên để thanh toán.

– TTTB có thể tổ chức trong phạm vi địa bàn (nội thành, nội thị và các đơn vị NH lân cận có cự li gần để đảm bảo giao nhận chứng từ TTBT theo phiên giao dịch trong ngày). Hoặc có thể tổ chức TTBT theo khu vực hay toàn quốc (khi đã thực hiện TTBT điện tử, nối mạng trực tiếp giữa các NH thành viên và trung tâm TTBT).

– Về luân chuyển chứng từ:

+ Thanh toán bù trừ truyền thống (luân chuyển chứng từ giấy). Tuỳ theo hình thức hoạt động của các ngân hàng thành viên trong địa bàn để quy định phiên giao nhận chứng từ trong ngày. Đến giờ giao nhận chứng từ, các NH thành viên phải mang các chứng từ TTBT đến địa điểm giao dịch (tại NH chủ trì) để giao, nhận chứng từ giữa các ngân hàng thành viên và giữa NH thành viên với NH chủ trì.

+ Thanh toán bù trừ điện tử: Qua mạng máy tính, các NH thành viên truyền chứng từ điện tử đến Trung tâm TTBT để thực hiện TTBT theo chương trình phần mềm TTBT điện tử.

3. Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước:

Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN được áp dụng trong thanh toán qua lại giữa hai ngân hàng hoặc đơn vị ngân hàng khác hệ thống đều có tài khoản tiền gửi tại NHNN (cùng hoặc khác chi nhánh, Sở giao dịch NHNN). Các khoản thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN của các ngân hàng cũng đều phát sinh trên cơ sở các khoản thanh toán của khách hàng và của nội bộ các ngân hàng như các khoản điều chuyển vốn, các khoản vay trả giữa các ngân hàng với nhau.

Để các ngân hàng thực hiện thanh toán qua TK tiền gửi tại NHNN, trên cơ sở chứng từ giấy, cần có các điều kiện sau:

– Các ngân hàng phải mở tài khoản tiền gửi tại Sở giao dịch hoặc chi nhánh NHNN và phải đăng ký mẫu dấu, chữ ký trong giao dịch thanh toán với NHNN nơi mở tài khoản.

– Dấu và chữ ký trên chứng từ thanh toán và bảng kê chứng từ thanh toán qua NHNN phải đúng với mẫu đã đăng ký với NHNN nơi mở tài khoản.

– Tài khoản tiền gửi tại NHNN của ngân hàng trả tiền (ngân hàng phát sinh nghiệp vụ thanh toán) phải có đủ số dư để bảo đảm thanh toán kịp thời.

4. Thanh toán theo phương thức uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ

Uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ là một phương thức thanh toán giữa hai ngân hàng theo sự thoả thuận và cam kết với nhau, ngân hàng này sẽ thực hiện thu hộ hoặc chi hộ cho ngân hàng kia trên cơ sở các chứng từ thanh toán của các khách hàng có mở tài khoản tại ngân hàng kia.

Phạm vi áp dụng: Phương thức này được áp dụng trong thanh toán:

– Giữa 2 đơn vị ngân hàng trong cùng hệ thống; và
– Giữa 2 ngân hàng hoặc đơn vị ngân hàng khác hệ thống.

Để tiến hành thanh toán theo phương thức uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ, hai ngân hàng phải ký hợp đồng để thống nhất với nhau về nguyên tắc, thủ tục và nội dung thanh toán. Các nghiệp vụ thanh toán thu hộ, chi hộ phát sinh được hạch toán vào tài khoản thu hộ, chi hộ giữa các ngân hàng. Theo định kỳ thoả thuận, hai ngân hàng đối chiếu doanh số phát sinh và số dư tài khoản thu, chi hộ để thanh toán cho nhau và tất toán số dư của tài khoản này.

5. Mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau để thanh toán

Phạm vi áp dụng: Phương thức này được áp dụng trong thanh toán:

– Giữa 2 đơn vị ngân hàng trong cùng hệ thống; và
– Giữa 2 ngân hàng hoặc đơn vị ngân hàng khác hệ thống.

Điều kiện để thực hiện thanh toán: Để thanh toán theo phương thức này đòi hỏi ngân hàng hoặc đơn vị ngân hàng này (sau đây gọi chung là ngân hàng) phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng kia hoặc ngược lại, thanh toán theo phương thức này đòi hỏi phải đăng ký mẫu dấu, chữ ký của người có thẩm quyền ra lệnh thanh toán qua tài khoản tiền gửi.

6. Thanh toán điện tử liên ngân hàng: Cho đến nay, thanh toán điện tử liên ngân hàng đã và đang được Ngân hàng Nhà nước triển khai trên phạm vi toàn quốc theo hai phân hệ là Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng và Thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng.

a/ Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (hệ thống TTĐTLNH): là hệ thống thanh toán tổng thể, bao gồm hệ thống bù trừ liên ngân hàng, hệ thống xử lý tài khoản tiền gửi thanh toán và cổng giao diện với hệ thống chuyển tiền điện tử của Ngân hàng Nhà nước. Hệ thống TTĐTLNH hiện đã được triển khai tại Trung ương (Sở Giao dịch NHNN) và 05 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Tp. Hồ Chí Minh. Hệ thống TTĐTLNH có các đặc trưng sau đây:

– Về mô hình tổ chức:

Hệ thống TTĐTLNH có Trung tâm thanh toán quốc gia đặt tại Hà Nội, Trung tâm này thực hiện các chức năng tiểu hệ thống giá trị cao, chuyển mạch tiểu hệ thống giá trị thấp, xử lý tài khoản tiền gửi thanh toán; giao diện với hệ thống chuyển tiền điện tử của Ngân hàng Nhà nước và các chức năng kiểm tra hệ thống bao gồm phần cứng, phần mềm và truyền thông. Kết nối với Trung tâm thanh toán quốc gia có các Trung tâm xử lý tỉnh – đặt tại một số chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố và Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, thực hiện chức năng xử lý các lệnh thanh toán của tiểu hệ thống giá trị thấp và chuyển mạch tiểu hệ thống giá trị cao trong phạm vi hệ thống TTLNH.

Các thành viên trực tiếp của hệ thống TTĐTLNH là các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có đủ điều kiện và được chấp nhận tham gia hệ thống TTLNH. Các thành viên trực tiếp phải có tài khoản tài khoản tiền gửi thanh toán tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước và phải đăng ký danh sách các chi nhánh trực thuộc của mình (gọi là đơn vị thành viên) tham gia TTĐTLNH để được kết nối trực tiếp vào hệ thống. Ngoài ra, hệ thống còn có các thành viên gián tiếp. Thành viên gián tiếp là các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được tham gia hệ thống TTLNH thông qua thành viên trực tiếp.

– Về kỹ thuật nghiệp vụ xử lý thanh, quyết toán: Hệ thống TTLNH xử lý các lệnh thanh toán giá trị cao hoặc khẩn thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán của ngân hàng thành viên mở tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước theo phương thức quyết toán tổng tức thời. Đối với các lệnh thanh toán giá trị thấp sẽ được xử lý thông qua thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố. Kết quả thanh toán bù trừ trên các địa bàn (tỉnh, thành phố, khu vực) được chuyển về Trung tâm thanh toán quốc gia, cùng với kết quả bù trừ tại Trung ương (bù trừ giữa các Hội sở chính ngân hàng), sẽ được tiếp tục xử lý bù trừ một lần nữa – bù trừ “kép” để xác định kết quả cuối cùng và quyết toán. Về cơ bản, các lệnh thanh toán giá trị thấp được xử lý theo phương thức ròng (DNS) như đã được giới thiệu ở phần đầu.

– Áp dụng chữ ký điện tử (mã khoá bảo mật) trong việc chuyển, nhận các lệnh thanh toán và các giao dịch có liên quan trong hệ thống.

– Phòng ngừa và xử lý rủi ro trong hệ thống TTĐTLNH: Giống như hệ thống thanh toán điện tử ở các nước, hệ thống TTĐTLNH cũng phải đối mặt với các rủi ro tiềm tàng như rủi ro vận hành và rủi ro có tính hệ thống do vậy cần phải có các biện pháp hữu hiệu và phù hợp để giảm thiểu tới mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra. Các biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro trong TTĐTLNH bao gồm:

+ Thiết lập và duy trì hoạt động của hệ thống dự phòng: hệ thống TTĐTLNH có hệ thống dự phòng cho hoạt động của Trung tâm thanh toán quốc gia và các Trung tâm xử lý tỉnh. Hệ thống dự phòng có đầy đủ các máy móc, trang thiết bị như hệ thống đang vận hành chính thức và được đặt tại địa điểm riêng biệt, cách xa hệ thống đang vận hành chính thức nhằm đảm bảo cho các sự cố bất khả kháng như thiên tai, địch họa … không thể cùng lúc ảnh hưởng đến cả 2 hệ thống. Trong trạng thái bình thường, hệ thống dự phòng hoạt động song hành với hệ thống chính thức và luôn sẵn sàng thay thế cho hệ thống chính thức, nếu hệ thống chính thức gặp phải sự cố bất khả kháng.

+ Xử lý và quyết toán các khoản thanh toán chuyển tiền giá trị cao và khẩn theo phương thức tổng tức thời. Trong trường hợp tài khoản tiền gửi thanh toán của thành viên không có đủ số dư thì lệnh thanh toán sẽ được chuyển vào hàng đợi, khi đủ tiền mới được xử lý.

+ Áp dụng hạn mức nợ ròng: Hạn mức nợ ròng là mức giá trị tối đa quy định cho các giao dịch thanh toán giá trị thấp được tham gia quyết toán bù trừ, được tính toán dựa trên chênh lệch giữa tổng số các lệnh thanh toán giá trị thấp Đến và tổng số các lệnh thanh toán giá trị thấp Đi trong một khoảng thời gian xác định. Các thành viên tham gia quyết toán bù trừ phải tự thiết lập hạn mức nợ ròng của mình (6 tháng một lần) theo đó, phải ký quỹ giấy tờ có giá tại SGD-NHNN theo một tỷ lệ quy định tính trên hạn mức nợ ròng. Cơ chế hạn mức nợ ròng được vận hành như sau: Đầu ngày làm việc, Trung tâm thanh toán Quốc gia cập nhật cho các Trung tâm xử lý tỉnh hạn mức nợ ròng đúng bằng giá trị các ngân hàng thành viên đã thiết lập. Tại mỗi thời điểm của ngày làm việc, hạn mức này thay đổi tăng, giảm tuỳ thuộc vào hoạt động giao dịch thanh toán trên thực tế. Định kỳ (10 giây), Trung tâm thanh toán quốc gia tính toán và cập nhật lại hạn mức này cho các Trung tâm xử lý tỉnh. Trong phạm vi hạn mức nợ ròng, các thành viên thực hiện việc chuyển, nhận các lệnh thanh toán với nhau và quyết toán bù trừ theo quy định và có trách nhiệm thường xuyên theo dõi hạn mức nợ ròng của mình để đảm bảo cho hoạt động thanh toán không bị ách tắc do thiếu hạn mức nợ ròng.

+ Chuyển nhượng cho nhau giấy tờ có giá ký quỹ: Là một biện pháp được áp dụng trong trường hợp một thành viên bất kỳ thiếu vốn thanh toán. Trong trường hợp này, SGD-NHNN sẽ thực hiện chuyển nhượng các giấy tờ có giá ký quỹ của thành viên này tại phiên giao dịch gần nhất của thị trường tiền tệ hoặc thị trường chứng khoán.

+ Chia sẻ khoản thiếu hụt trong quyết toán bù trừ: Chia sẻ khoản thiếu hụt trong quyết toán bù trừ có thể được áp dụng khi một thành viên thiếu vốn thanh toán (sau khi đã áp dụng các giải pháp theo quy định), NHNN có thể xem xét phân bổ khoản tiền thiếu này cho các thành viên đối tác tham gia quyết toán cùng gánh chịu như là một khoản cho vay tạm thời. Cách xử lý chia sẻ khoản thiếu hụt trong quyết toán bù trừ: Khi nhận được thông báo khoản tiền được phân bổ để chia sẻ khoản thiếu hụt, thành viên bị phân bổ phải có hoặc bổ sung đủ số tiền vào tài khoản tiền gửi tại SGD-NHNN trong phạm vi thời gian quy định. Theo đó, thành viên này sẽ tính toán lại số dư quyết toán bù trừ bao gồm cả số tiền đóng góp cho khoản thiếu hụt được phân bổ. Thành viên thiếu vốn thanh toán có trách nhiệm phải hoàn trả đúng thời hạn số tiền cả gốc và lãi được các thành viên khác cho vay tạm thời kể trên. Trong trường hợp việc chuyển nhượng giấy tờ có giá ký quỹ và chia sẻ thiếu hụt trong quyết toán bù trừ vẫn không đáp ứng đủ vốn thanh toán thì các khoản thanh toán của thành viên thiếu vốn sẽ bị loại bỏ để thực hiện lại việc quyết toán bù trừ.

b/ Thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng: là hệ thống thanh toán ròng, xử lý các khoản thanh toán chuyển tiền liên ngân hàng giá trị thấp (dưới 500 triệu đồng). Hệ thống thanh toán này có đặc điểm sau:

– Được thiết kế theo mô hình kết hợp thanh toán tổng tức thời và ròng (Hybrid System). Theo đó, thanh toán bù trừ điện tử liên ngân hàng thực hiện theo quy trình: Lệnh thanh toán từ ngân hàng thành viên gửi lệnh sẽ phải qua ngân hàng chủ trì thanh toán bù trừ điện tử để kiểm soát, xử lý bù trừ, hạch toán kết quả trước khi lệnh thanh toán được chuyển tiếp đi ngân hàng thành viên nhận lệnh.

– Các chủ thể tham gia thanh toán bù trừ điện tử (TTBTĐT) gồm có:

+ Ngân hàng chủ trì TTBTĐT, là đơn vị chịu trách nhiệm nhận, kiểm tra các lệnh thanh toán từ các ngân hàng thành viên gửi lệnh; xử lý bù trừ, và gửi bảng kết quả bù trừ cùng các lệnh thanh toán cho các ngân hàng thành viên liên quan; xử lý việc đối chiếu doanh số TTBTĐT với các ngân hàng thành viên; quyết toán và hạch toán kết quả TTBTĐT;

+ Các ngân hàng thành viên trực tiếp của hệ thống là các ngân hàng và tổ chức được làm dịch vụ thanh toán, có mở tài khoản tại ngân hàng chủ trì TTBTĐT. Ngân hàng thành viên có trách nhiệm lập và gửi lệnh thanh toán, Bảng kê lệnh thanh toán; nhận lệnh thanh toán và kết quả TTBTĐT; thực hiện đúng quy trình đối chiếu, quyết toán TTBTĐT.

– Áp dụng chữ ký điện tử trong việc chuyển, nhận các lệnh thanh toán và các giao dịch có liên quan giữa ngân hàng chủ trì TTBTĐT với ngân hàng thành viên trực tiếp của hệ thống.

– Để phòng ngừa rủi ro hệ thống, việc xử lý thanh toán và quyết toán TTBTĐT phải thực hiện theo nguyên tắc: Ngân hàng chủ trì TTBTĐT xử lý bù trừ các lệnh thanh toán và thanh toán ngay số chênh lệch phải trả theo kết quả TTBTĐT của từng ngân hàng thành viên trong phạm vi khả năng chi trả thực tế của họ tại ngân hàng chủ trì TTBTĐT. Thực hiện vấn đề này, về phương diện kỹ thuật, thông thường ngân hàng chủ trì TTBTĐT sẽ khoá số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của các ngân hàng thành viên trong thời gian xử lý bù trừ theo phiên và khi quyết toán TTBTĐT trong ngày.

Trong trường hợp tài khoản tiền gửi thanh toán của một ngân hàng thành viên bất kỳ không có đủ số dư để thanh toán kết quả phải trả của mình thì Ngân hàng chủ trì TTBTĐT sẽ phải chuyển bớt một số lệnh thanh toán của ngân hàng này để xử lý vào phiên thanh toán bù trừ kế tiếp (nếu là xử lý tại phiên TTBTĐT) hoặc phải huỷ bỏ các lệnh thanh toán này nếu là tại thời điểm quyết toán bù trừ điện tử trong ngày.


Các từ khóa trọng tâm hoặc các thuật ngữ liên quan đến bài viết trên:
  • thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng
  • thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng là gì
  • thanh toán vốn giữa các ngân hàng word
  • liên kết giữa các ngân hàng
  • ph??ng th?c thanh to?n C?n Th?
  • quy trình thanh toán bù trừ liên ngân hàng
  • thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng khác hệ thống
  • ,