Hiệu quả của Kinh tế học giáo dục

1 Về kinh tế

Các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế từ lâu đã nhận thấy rằng vốn con người đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và giáo dục chính là cách thức cơ bản để tích lũy vốn con người. Các tác giả cổ điển trước đây như Adam Smith, Afred Marshall và nhiều tác giả khác đã có một số quan điểm về khái niệm “vốn con người”. Một ví dụ chứng minh cho lý luận trên đó là tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong những năm 1990 và sự hội tụ nhanh chóng tới thu nhập bình quân đầu người ở khu vực Đông Á với các nước công nghiệp hoá. Trong đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng một nhân tố quan trọng trong thành công của Đông Á trong giai đoạn 1965-1990 là đã hình thành một cơ sở tích luỹ vốn con người thông qua phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, trong khi giáo dục đại học chủ yếu được đáp ứng thông qua các hệ thống tự cấp tài chính.

Trong thời gian gần đây, các nghiên cứu về vai trò kinh tế của giáo dục đã phát triển mạnh theo hai hướng độc lập nhau: (i) ước lượng về lợi suất tính bằng tiền của giáo dục trên cơ sở nền tảng kinh tế lao động vi mô, và (ii) nghiên cứu tăng trưởng kinh tế vĩ mô về quan hệ giữa vốn con người của các quốc gia hay các vùng/tỉnh với tăng trưởng GDP. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm chúng tôi sử dụng hướng thứ hai nhằm phù hợp với số liệu thu thập được tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2011.

2 Về xã hội

2.1 Về xóa nạn mù chữ : 

Có thể coi đây là nhiệm vụ cũng như là ưu tiên hàng đầu của giáo dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh:”Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Việc xóa mù chữ cũng là việc làm mấu chốt để hạn chế đói nghèo, giảm thiểu tỷ lệ tử vong ở trẻ em, ngăn chặn đà tăng trưởng dân số, thiết lập bình đẳng giới và đảm bảo phát triển bền vững, hòa bình và dân chủ..

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, trong suốt những năm vừa qua, đất nước ta đã và đang xây dựng một xã hội học tập và thu được nhiều kết quả có ý nghĩa. Nước ta đã xây dựng được một hệ thống giáo dục đầy đủ các cấp học ở mọi vùng, miền với nhiều loại hình trường lớp với số lượng học sinh đến trường ở các cấp ngày một tăng. Chính phủ Việt Nam cũng  đã thực hiện nhiều chính sách công bằng trong tiếp cận giáo dục đối với trẻ dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng khó khăn, trẻ khuyết tật như “Dự án giáo dục tiểu học cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn”, tạo mọi điều kiện để trẻ khuyết tật được đến trường và hòa nhập theo chương trình học. Trong những năm vừa qua, ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo liên tục tăng lên nhằm đầu tư cho phổ cập giáo dục tại các vùng sâu, xa, đổi mới chương trình, bồi dưỡng giáo viên, nâng cấp cơ sở giáo dục… thông qua các hoạt động như: triển khai các dự án ODA cho giáo dục, thực hiện xã hội hóa để huy động tiềm năng của các thành phần kinh tế cho phổ cập giáo dục.

Xây dựng được nền giáo dục cơ sở tốt nước ta mang tới cho học sinh các kỹ năng đọc viết và khả năng tiếp nhận các kiến thức khác; những bậc phụ huynh biết chữ cũng gửi con em họ tới trường nhiều hơn; những người biết chữ cũng mong muốn được tiếp tục đào tạo lên các cấp cao hơn, và vì vậy, xã hội biết chữ có thể tiến bộ hơn, có đủ khả năng loại bỏ các thách thức của sự phát triển

Hiện nay mặc dù là một quốc gia đang phát triển, còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Việt Nam luôn được các tổ chức quốc tế đánh giá là cao về thành tích giáo dục và phổ cập giáo dục so với các nước có mức thu nhập tương đương trong việc tạo được sự công bằng về giới và về tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi.

2.2 Tỉ lệ biết chữ, biết đọc, biết viết tăng:

Một điều dễ thấy là hiệu quả giáo dục từ công tác xóa mù chữ sẽ giúp việc số người biết chữ sẽ tăng lên, từ đó dẫn đến tỉ lệ biết chữ cũng tăng theo.

Có thể minh chứng qua con số sau đây: Ngày 20/4/2012 tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam công bố Báo cáo Nâng cao chất lượng giáo dục cho mọi người đến năm 2020 nhằm cung cấp những phân tích chuyên sâu về hiệu quả giáo dục bậc tiểu học và trung học ở Việt Nam. Báo cáo cho thấy Việt Nam đạt được những kết quả ấn tượng trong việc cải thiện hiệu quả giáo dục trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Tỷ lệ biết chữ và tỷ lệ đến trường ở Việt Nam khá cao so với các nước khác trong khu vực và trong nhóm các nước có cùng thu nhập.

2.3 Mức sinh thấp

Trình độ giáo dục cao hơn của phụ nữ ở các nước đang phát triển thường dẫn đến mức sinh thấp hơn.

Nhiều nghiên cứu những năm qua về mối quan hệ giữa trình độ giáo dục cao ở phụ nữ cho thấy rằng mức sinh của họ giảm. Quả thực, các số liệu gần đây từ nhiều nước cho thấy phụ nữ có trình độ giáo dục thường có số con bằng 1/3 hoặc 1/2 số con của những phụ nữ không đi học. Ở một số nước, mức sinh của những phụ nữ có trình độ giáo dục tiệm cận mức sinh thay thế. Những phụ nữ có trình độ giáo dục cao hơn có thể kết hôn muộn và có khả năng kiểm soát đời sống sinh sản của họ, kể cả những quyết định về sinh con.

2.4 Giảm tệ nạn xã hội:

Công tác quản lý học sinh, sinh viên (HSSV) là một mặt quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo của Nhà trường. Quản lý tốt HSSV sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng chuyên môn, đồng thời còn tạo ra môi trường tốt cho việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, nhân cách và tác phong, lối sống cho HSSV. Ngoài ra, nhà trường còn phải nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện để sản phẩm đào tạo phải là những công dân tốt, có ích cho xã hội, những lớp HSSV khoẻ mạnh cả về thể chất và tinh thần, có trình độ tay nghề và phẩm chất đạo đức tốt. Do đó, công tác tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện cho HSSV ý thức tôn trọng và thực hiện pháp luật, nội quy, quy định.. là một phần không thể thiếu. Nhờ nhận thức về trình độ pháp luật, kiến thức xã hội được nâng cao, người học sẽ chủ động tham gia tốt các phong trào phòng, chống và tố giác tội phạm, chấp hành đúng pháp luật, góp phần làm giảm số vụ vi phạm trật tự xã hội và tệ nạn xã hội.

2.5 Công bằng xã hội:

Giáo dục như chìa khóa trao tay, trang bị cho con người kiến thức, kĩ năng và tay nghề làm việc để có cơ hội tìm kiếm công việc được dễ dàng hơn, đáp ứng nhu cầu lao động ngày một cao của nền kinh tế.

Phần lớn người nghèo đều là lực lượng lao động phổ thông, không có trình độ, chuyên môn và tay nghề để thích ứng với các công việc đòi hỏi cao. Do đó, họ vẫn không kiếm được công việc với mức thu nhập khá hơn để cải thiện cuộc sống và hơn hết là thoát khỏi vòng lẩn quẩn đói nghèo. Từ hệ quả trên, giáo dục là con đường giúp người lao động tìm kiếm được công việc tốt hơn, mức thu nhập cao hơn một khi họ được đào tạo về kĩ năng, tay nghề, đáp ứng được nhu cầu lao động của nền kinh tế. Vì vậy, giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho công bằng xã hội được nâng lên khi tất cả mọi người đều có cơ hội như nhau trong việc được sử dụng các dịch vụ y tế, giáo dục, điện, nước…… , trẻ em có điều kiện để học tập, đời sống tinh thần vật chất, tinh thần được nâng lên.

  • Hệ số Gini là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ bất bình đẳng trong thu nhập của một Quốc gia. Một quốc gia có hệ số Gini càng gần 0 thì nền kinh tế càng bình đẳng giữa người giàu và người nghèo, còn ngược lại hệ số này càng gần 1 thì càng bất bình đẳng

2.1.3 Chính trị

Vì giáo dục hướng đến phát triển con người và con người lại là nhân tố chính trong quá trình phát triển cũng như thể hiện năng lực quốc gia. Nên giáo dục có tác động lớn đến nền chính trị của đất nước.

Giáo dục góp phần nâng cao vị thế quốc gia nhờ lợi thế cạnh tranh từ nguồn nhân lực có chất lượng. Tạo ra những người lãnh đạo tài ba có tầm nhìn chiến lược phát triển và quản lý đất nước giàu mạnh góp phần ổn định xã hội về mặt chính trị.

Sự đóng góp về mặt nghiên cứu khoa học, các phát minh nhân loại của các giáo sư, nhà khoa học cũng như các công trình nghiên cứu thành công sẽ tạo điều kiện thúc đẩy để khẳng định vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Nhật Bản là quốc gia điển hình khi chính giáo dục mang lại sự phát triển thần kì về mặt kinh tế sau chiến tranh và đưa vị thế nước Nhật lên tầm cao mới, được cộng đồng thế giới ngưỡng mộ , công nhận và có tiếng nói nặng ký trong các vấn đề khu vực và thế giới.

Xét tổng thể trong Giáo dục, thì GDĐH là ngưỡng đào tạo rất quan trọng và cấp thiết nhất trong toàn bộ dây chuyền sản xuất và cung ứng của Giáo dục nhằm:

  • Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực có trình độ cho nền kinh tế. Đây là lực lượng then chốt cho sự tiến bộ của bất kì quốc gia nào. GDĐH là ngưỡng tiên quyết để phát triển các loại hình đào tạo sau đại học như thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư. Lượng chất xám của nền kinh tế  tập trung chính ở đội ngũ được đào tạo ĐH và sau ĐH , chính vì vậy GDĐH phải đảm bảo cả về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ấy.
  • Tăng tài chính của mỗi cá nhân và đóng góp vào nền kinh tế. Mức thu nhập của những người được đào tạo ở bậc ĐH thường cao hơn so với các cấp đào tạo dưới ĐH. Thông qua GDĐH, con người sẽ có cơ hội thăng tiến, nâng cao vị thế trong xã hội. Mỗi cá nhân tạo nên lợi ích tài chính cho mình thì tổng thể sẽ  góp phần vào nền kinh tế quốc gia. Phần lớn nguồn lực này là những người đóng góp Thuế TNCN vào ngân sách NN, chăm sóc thành phần lệ thuộc (cha mẹ, anh chị em) giảm gánh nặng xã hội. Tổng năng suất lao động của mỗi cá nhân sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước.
  • Giảm khoảng cách giàu nghèo. GDĐH là cánh cửa giúp sinh viên thoát nghèo, có cơ hội đổi đời, thăng tiến trong xã hội với mức thu nhập cao, và gia tăng tích lũy cho mình. Từ cơ sở thoát nghèo, họ có khả năng tự chăm lo cho gia đình tương lai, và cho con cái một nền giáo dục tốt hơn  khi có điều kiện.
  • Phát triển hệ thống Giáo dục Quốc gia. Nguồn lực được đào tạo thông qua ĐH và sau ĐH sẽ là lực lượng tiên phong cho toàn bộ hệ thống giáo dục. Đây là nguồn lực đầu não, không thể thiếu khi vận hành hệ thống giáo dục. Một nền giáo dục có phát triển hay không là tùy thuộc rất nhiều vào chất lượng dạy học của giáo viên, giảng viên. Dây chuyền sản xuất của GDĐH xây dựng năng lực, cung cấp cho đất nước nguồn nhân lực trình độ và chính những con người này sẽ quay lại dẫn dắt guồng máy sản xuất ấy và tiếp tục đào tạo cho ra những con người mới, nguồn nhân lực mới, tiếp tục cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước.