Hoàn thiện các chính sách thực hiện giảm nghèo bền vững vùng miền núi

Thứ nhất, chính sách về xây dựng cơ sở hạ tầng và huy động nguồn lực

Để phát triển cơ sở hạ tầng vùng miền núi của tỉnh Nghệ An, cần tập trung vào những lĩnh vực   cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển sản xuất như khai hoang, thủy   lợi, khuyến nông, khuyến lâm… bên cạnh việc đầu tư cơ sở hạ tầng nói chung với mức thỏa đáng hơn. Trong đó, cần chú trọng xây dựng các chính sách mang tính chất đặc   thù ví dụ như đề nghị tăng suất đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật đối    với các xã nghèo đặc biệt khó khăn Chương trình 135, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển từ 1,0 tỷ đồng/xã/năm như hiện nay lên 2,0 – 2,5 tỷ đồng/xã/năm.

Tuy vậy, do nguồn ngân sách Nhà nước và địa phương dành  cho  đầu tư phát  triển cơ sở hạ tầng của tỉnh Nghệ An còn hạn hẹp thì việc xây dựng chính sách cần tập trung để thực hiện hiệu quả việc lồng ghép đối với các chương trình, dự án, có nguồn vốn hỗ trợ đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất  kỹ thuật cho khu vực nông thôn miền núi. Bản thân chính quyền  các  cấp vùng  miền núi cần chủ động, vận dụng để thực hiện có hiệu quả và hiệu lực đối với các cơ chế, chính sách của cấp trên (Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới; các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu 30a, 135). Việc đầu tư phát triển cơ sở  hạ tầng  phải  thực hiện có trọng điểm, tập trung nguồn lực để xây dựng các công trình trọng yếu,  công trình có ý nghĩa tạo động lực thúc đẩy phát triển KT-XH khu vực miền núi; tránh đầu tư dàn trải, không hiệu quả. Trong quản lý nguồn vốn, cần ưu tiên bố trí nguồn ngân sách cấp tỉnh, coi  đó là nguồn vốn “kích cầu” trong hỗ trợ triển  khai thực hiện  các chính sách đã ban hành. Song song với nguồn cấp  phát từ ngân sách nhà nước,  vùng cần chủ động huy động nguồn vốn ngoài ngân sách, vốn xã hội hóa đầu tư cho hạ tầng giao thông nông thôn miền núi.

Do đặc điểm vùng miền núi Nghệ An là có vùng dân cư sống tập trung và có vùng dân cư không tập trung và trong điều kiện nguồn vốn đầu tư có hạn, vì vậy phải chính sách phát triển kết cấu hạ tầng phù hợp với đặc điểm đó. Cụ thể :

Đối với vùng dân cư sống tập trung, nên đầu tư phát triển cơ sở vật chất, các hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trước hết là đầu tư trường học, để nâng cao trình độ dân trí để người nghèo biết cách làm ăn, tiếp theo đầu tư trạm y tế để chăm lo sức khỏe, rồi mới đến là đường và điện.

Đối với vùng dân cư sống không tập trung, chính quyền các cấp cần xây dựng   những tụ điểm thương mại và văn hóa, giáo dục để tạo điều kiện cho người dân giao thương, học tập và sinh hoạt văn hóa, tiếp cận với các dịnh vụ công.

Thứ hai, chính sách giáo dục, đào tạo nghề và việc làm đối với người nghèo

Một là,  chính sách giáo dục, đào tạo cần hướng vào bồi dưỡng nguồn nhân lực  cho vùng miền núi, nhất là nguồn nhân lực trẻ nhằm ngăn chặn sự xuống cấp trong hệ thống giáo dục các huyện miền núi, đẩy nhanh tốc độ phát triển giáo dục ở đây. Cần xem giáo dục, đào tạo trong đó giáo dục dạy nghề làm trọng tâm, là nhiệm vụ chính trị của toàn bộ hệ thống chính quyền vùng miền núi của tỉnh, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề nhận thức, kinh phí, nhân lực  cho sản xuất cho các  gia đình  neo đơn, người DTTS, các hộ nghèo thông qua hoạt động hỗ trợ, động viên cũng như các biện pháp hành chính đối với các đơn vị,  địa phương coi nhẹ vấn đề này.  Trong  xây dựng và phát triển chương trình, kế hoạch giáo dục, đào tạo, nhất là đào tạo nghề cần có sự phối kết hợp chặt chẽ, khoa học giữa chính quyền và các tổ chức đoàn thể, chính trị, xã hội, nghề nghiệp, xây dựng phương án phát triển nguồn nhân lực chất  lượng cao vùng miền núi (đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc), đáp ứng yêu   cầu phát triển KT-XH, tạo dựng sinh kế bền vững cho người dân và người nghèo các  địa phương.

Hai là, về nội dung nâng cao nhận thức cho người nghèo, cần hướng đến việc trang bị cho họ những cách tiếp cận mới tới hệ thống sản xuất, kinh doanh hoạt động theo nền kinh tế thị trường hiện nay. Cần xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình điển hình “tạo ra người tiên phong” – tức là người nhạy bén, biết tổ chức sản xuất, biết chia sẻ và có khả năng dẫn dắt, không nhất thiết phải là người có học vấn cao, nhưng phải là người chăm chỉ, gia đình hạnh phúc, nề nếp, nhằm tạo ra sức lan tỏa,  thông  qua nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh đơn giản như đổi công, thuê làm, bán giống, thu mua… Đây sẽ là nhóm người đóng góp tích cực vào công tác tuyên truyền khát vọng thoát nghèo bằng con đường chính đáng cho những hộ nghèo, nhất là ở các xã, huyện vùng cao. Từ đó cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền, phê phán tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào trợ cấp Nhà nước của  một số hộ nghèo có tiềm năng và hộ nghèo tiềm năng hạn  chế cũng như nhiều hình thức trá hình, chia nhỏ hộ để hưởng hộ nghèo.

Ba là, cũng cần xây dựng cơ chế đặc thù đối với cán bộ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cũng như hỗ trợ đặc thù cho học sinh các vùng miền núi, nhất là vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới. Ví dụ như sử dụng các   dạng biên chế theo hợp đồng cử tuyển, hỗ trợ nhà ở, dịch vụ sinh hoạt, thường xuyên  bồi dưỡng, nâng cao trình độ giáo viên hiện đương chức, có lộ trình đào tạo cán bộ người dân tộc, người bản địa thay thế giáo viên từ các khu vực khác tuyển về… Đặc biệt, cần xem xét xây dựng mạng lưới trường học, trường nghề cho  các huyện  miền  núi vùng cao, đảm bảo đào tạo đủ cán bộ tại chỗ cho các huyện trong vùng.

Bốn là, cần hỗ trợ phát triển hạ tầng, cơ sở vật chất cho ngành giáo dục và đào tạo vùng miền núi vùng sâu, vùng xa thông qua tăng cường cơ sở vật chất, trường học các cấp, nhất là các trường nội trú; tăng tỷ lệ kiên cố hóa trường học các cấp; bổ sung đồ dùng, thiết bị giảng dạy, học tập, thực hành nghề cho các cơ sở giáo dục…  Cần đa  dạng hóa các mô hình giáo dục – đào tạo – bồi dưỡng ở các cấp, đổi mới phương pháp dạy – học theo hướng tăng cường khả năng thực hành của học sinh.

Chính sách đào tạo người nghèo vùng miền núi phải gắn với chính sách giải quyết việc làm. Tuy nhiên để người nghèo vùng miền núi có việc làm, ngoài phát huy vượt nghèo của chính bản thân người nghèo cần phải có sự giúp đỡ của hệ thống chính quyền. Các biện pháp để tạo việc làm cho người nghèo vùng miền núi là:

Một là, cải thiện mạnh môi trường đầu tư  để thu hút nhiều doanh nghiệp vào  đầu tư nhằm phát triển KT-XH, giúp tạo việc làm, tạo nhiều việc làm mới và thu nhập ổn định cho người nghèo, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, xóa đói GN

Hai là, tiếp tục, tìm kiếm thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu lao động, tạo việc làm và giúp giải quyết việc làm, giúp tăng thu nhập nhất là cho người nghèo thuộc khu vực vùng miền núi.

Ba là, huy động và thực hiện tốt các chính sách về tín dụng, tạo điều kiện cho  các doanh nghiệp, cho các cơ sở sản xuất kinh doanh được hình thành và phát triển, và dành cho người lao động vay để giải quyết việc làm.

Thứ ba, chính sách về hỗ trợ vốn đối với người nghèo

Một là, tiếp tục tranh thủ nguồn vốn Trung ương nhằm đảm bảo nguồn lực để ưu tiên nhiều hơn nữa cho đồng bào DTTS nghèo, vùng nghèo và tích cực tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương tiếp tục quan tâm chỉ đạo có hiệu quả đối   với hoạt động tín dụng chính sách theo Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư và Quyết định số 29-CT/TU của BTV Tỉnh ủy, nhất là việc bố trí ngân sách để Ngân hàng chính sách xã hội cho vay đối với người nghèo, người DTTS và đối tượng chính sách khác.

Hai là, tăng cường chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan để rà soát nhu cầu vốn hàng năm, xác định nhu cầu  thực tế và chỉ đạo sát sao việc bình xét đối tượng,  giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các hộ vay vốn.

Ba là, xây dựng và duy trì các chương trình tín dụng phục vụ riêng cho đồng bào vùng miền núi, nhất là đồng bào DTTS, nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, triển khai cho vay theo nghị định số 75/2015/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định số 2085/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đạt kết quả  cao nhất, đảm bảo đúng đối  tượng, người vay sử dụng vốn đúng mục đích và phát huy tối đa hiệu quả đồng vốn   góp phần thúc đẩy GN nhanh và bền vững. Ưu tiên hỗ trợ vốn cho các địa phương, cho các hộ phát triển cây trồng vật nuôi nhằm GN như phát triển cây chanh leo, cây nghệ đen ở huyện Tương Dương, cây trám đen ở huyện Thanh Chương…

Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền về nguồn tín dụng ưu đãi tới người dân để tăng khả năng nhận biết về nguồn vốn, giúp người dân ở vùng miền núi chủ động, tích cực tiếp cận nguồn vốn đầu tư phục vụ sản xuất,  kinh doanh cũng như sử  dụng  vốn có hiệu quả cao nhất.

Năm là, tăng cường đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn,  nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, tiếp tục quan tâm tạo điều kiện hơn nữa đối với đội ngũ cán bộ làm việc tại vùng miền núi cao, vùng nghèo để họ yên tâm công tác và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Sáu là, về phía các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là UBND cấp huyện cần thường xuyên chỉ đạo kịp thời, thực hiện bổ sung danh sách hộ nghèo theo hướng dẫn của Bộ LĐ-TBXH tại Thông tư 17/2016/TT-BLĐTBXH một cách kịp thời và chỉ đạo UBND cấp xã lập và xác nhận kịp thời đối tượng thoát nghèo theo Quyết định số 28/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để các đối tượng thụ hưởng chương trình có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn một cách kịp thời. Bên cạnh đó, cần tăng cường việc  bố trí nguồn NSĐP để ủy thác cho ngân hàng chính sách xã hội cho vay, đáp ứng tốt nhu cầu vay vốn sản xuất của người nghèo vùng miền núi.

Để phát huy nguồn vốn này, tỉnh chỉ đạo huyện, xã phân người nghèo thành 2 loại: Nghèo do nguyên nhân khách quan và nghèo do nguyên nhân chủ quan.

Đối với những người nghèo do nguyên nhân khách quan. Đây là những người  nghèo không phải do bản thân họ, có thể họ biết nghĩ , biết cách làm ăn, nhưng hoàn cảnh khách quan dẫn đến nghèo, vì vậy cần hỗ trợ vốn để bản thân người nghèo này có điều kiện thoát nghèo.

Đối với người nghèo do nguyên nhân chủ quan. Đây là những người nghèo do chính bản thân họ bản thân họ gây ra; đây là những người không biết làm ăn, nghiện ngập, lười lao động, do đó tự bản thân họ không thể thoát nghèo, vì vậy không nên hỗ trợ vốn cho họ. Để giúp cho những người nghèo này thoát nghèo chính quyền địa phương cần phải giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho họ. Trước hết, để họ chịu đi làm, không nên tài trợ vật chất cho họ dưới mọi hình thức, để tránh tình trạng họ ỷ lại, trông chờ vào tài trợ. Thực tế đã chứng minh, nguồn tài trợ này không giúp người nghèo vùng miền núi thoát nghèo, ngược lại người nghèo ỷ vào tài trợ, càng không chịu lao động. Để tạo việc làm cho những người nghèo này, CQCT quy định hỗ trợ vốn cho các hộ khá giả, biết làm ăn ở địa phương, nhưng cần có quy định ràng buộc về trách nhiệm của hộ này là khi vay vốn phải lấy những người nghèo này vào làm việc theo yêu cầu của  chính quyền địa phương. Thông qua đó, giúp cho các đối tượng nghèo này có việc làm, qua đó hy vọng thoát nghèo

Thứ tư, chính sách về hỗ trợ khoa học và công nghệ đối với người nghèo

Một là, cần xây dựng các giải pháp khoa học và công nghệ dựa trên chuỗi giá trị nhằm giảm bớt các khâu trung gian, hạ giá thành, tăng giá trị sản phẩm, nâng cao lợi   thế cạnh tranh của sản phẩm (nhất là nông sản của người nông dân), nhờ đó mang lại  giá trị cao hơn, thu nhập bền vững hơn cho người nông dân. Để xây dựng được chuỗi giá trị và chuyển giao thành công khoa học và công nghệ theo chuỗi giá trị, cần có những chính sách khả thi nhằm tập trung xây dựng và phát triển nông nghiệp hữu cơ, công nghệ cao, là tiền đề cơ bản cho sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm với sự tham gia tích cực của “4 nhà”: nhà nông, nhà khoa học, nhà nước và nhà doanh nghiệp – hợp tác xã. Bên cạnh đó, nhà nước (cơ quan quản lý thị trường cấp huyện,  tỉnh) cần có  chính sách hỗ trợ công tác đánh giá, dự báo thị trường, thường xuyên cập nhật, nắm chắc thông tin thị trường cung cầu hàng hóa nông sản, làm cơ sở cho  chuỗi sản xuất.  Từ đó, xây dựng các cơ chế đặc thù thu hút đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, thúc đẩy thành lập các hợp tác xã kiểu mới để xóa bỏ sản xuất nhỏ lẻ của các hộ gia đình. Tạo cơ chế nhằm tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp thu mua, phân phối, chế biến, tiêu thụ trong nước và người nông dân, đảm bảo đầu ra cho quá trình sản xuất, xây dựng chuỗi giá trị nông sản bền vững.

Hai là, ưu tiên phát triển các công nghệ phục vụ sản xuất hang hóa, phục vụ các ngành chế biến các sản phẩm đặc thù, có lợi thế cạnh tranh của vùng miền núi tỉnh  Nghệ An như:

– Phát triển và chuyển giao các nghiên cứu bảo tồn, phát triển  các giống  cây  trồng, vật nuôi bản địa, có giá trị và tiềm năng thương mại, tạo thành các sản phẩm  hàng hóa (khoai sọ; quế Quỳ, gừng, dong riềng, lúa nương, nếp cẩm có giá trị ở Tương Dương, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Quế Phong; một số loại rau đặc hữu như cải mẹo, cà chua múi, dưa mạc tảnh (dưa rẫy); bí xanh; bí đỏ; phát triển các giống vật nuôi bản địa như  bò Mông, ngựa Mông, trâu Na Hỷ, lợn Sao Va, gà đen…;

  • Thực hiện chương trình bảo tồn, khai thác và phát triển quỹ gen, đẩy mạnh và ưu tiên họạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ trong khai thác phát triển dược liệu. Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chế biến các sản phẩm dược liệu, thực phẩm chức năng từ các cây dược liệu sẵn có trên địa bàn tạo thành các sản phẩm hàng hóa;
  • Thực hiện các chương trình hỗ trợ, bảo tồn và tiến đến thực hiện thương mại hoá đối với các bài thuốc dân gian trong vùng, từ đó giúp cho y học cổ truyền phát triển và bảo tồn được tri thức bản địa trên địa bàn;
  • Đẩy mạnh hoạt động khuyến ngư nhằm khai thác lợi thế các thủy vực lớn, phát triển nuôi trồng thủy sản tạo ra các sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị trường.

Ba là, cần phát huy vai trò của các hợp tác xã nông lâm nghiệp ở vùng miền núi, tạo cơ sở thúc đẩy các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm cho các hộ dân, trong đó  chú ý xây dựng nội dung tập huấn kỹ thuật một cách  thiết thực và hiệu quả, phù  hợp với tập quán của từng dân tộc và thôn bản. Chú trọng phát triển hoạt động phổ biến các kiến thức về thú y (phòng trừ dịch bệnh), bảo vệ thực vật, giống, chuyển giao quy trình kỹ thuật theo hướng thị trường… Cần tăng cường hoạt động tuyên truyền  để chuyển  đổi phương thức canh tác, nuôi trồng cũ,  lạc hậu sang phương thức canh tác,  nuôi  trồng mới, đảm bảo an toàn cho môi trường sinh thái và có kiểm soát,  đảm bảo  tính  bền vững về môi sinh, môi trường.

Thứ năm, chính sách y tế đối với người nghèo vùng miền núi tỉnh Nghệ An

Một là, xây dựng chiến lược, chính sách phát triển y tế dành cho vùng miền núi tỉnh Nghệ An trong 10 – 20 năm, tầm nhìn 30 – 50 năm nhằm tăng cường một hệ thống chính sách đầu tư về y tế bền vững, đồng bộ. Chiến lược phát triển y tế cho vùng miền núi cần hướng tới việc hoạch định cụ thể nhằm nâng cao chất lượng trong việc khám chữa bệnh; gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở khám chữa bệnh, đội ngũ thầy thuốc trong việc sử dụng hợp lý thuốc, các dịch vụ y tế điều trị cho bệnh nhân bảo   hiểm y tế và sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn quỹ bảo hiểm y tế.

Hai là, phối hợp với các đơn vị y tế có liên quan (Sở Y tế, Bộ Y tế) để xây dựng  và tổ chức ban hành cũng như thực hiện các phác đồ chữa bệnh theo tiêu chuẩn để các cơ sở khám chữa bệnh tiến hành thực hiện theo đúng quy định,  đồng thời làm căn cứ  để bảo hiểm xã hội có thể thực hiện giám định, nhằm đánh giá mức độ phù hợp, sự    hợp lý trong chỉ định điều trị bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh. Cần tăng cường trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong quản lý việc đăng ký, cấp phát bảo hiểm y tế cho người nghèo thông qua: tổ chức  bình xét, rà soát, lập, chuyển danh sách  đề nghị cấp  thẻ bảo hiểm y tế đối với hộ nghèo và cận nghèo; tăng cường ứng dụng công nghệ  thông tin vào quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn…

Ba là, tăng cường sự đãi ngộ cho cán bộ y tế cấp cơ sở, nhất là cấp thôn, bản. Đối với vùng miền núi, nơi mà dân số phân bố rải rác, vai trò của đội ngũ cán bộ y tế cấp thôn, bản là rất quan trọng. Trên thực tế, năng lực của đội ngũ này rất yếu về chuyên môn, trong khi các chế độ đãi ngộ chưa tạo nên động lực để họ làm việc và nâng cao trình độ cũng như tăng tính trách nhiệm. Việc phân nhiệm cán  bộ y tế từ các địa  phương khác về công tác tại địa bàn các huyện, xã vùng miền núi cũng gây nhiều khó khăn cho công tác cán bộ, để tăng sự gắn bó giữa cán bộ với  người  dân, cần tăng  cường đào tạo cán bộ y tế cho vùng miền núi tỉnh Nghệ An theo chế độ cử tuyển.

Bốn là, tăng cường đầu tư cho chính sách chăm sóc sức khỏe ban đầu từ tuyến cơ sở cho trẻ em, thanh thiếu niên, bà mẹ như chính sách chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ   em, dinh dưỡng cho trẻ em, chống suy dinh dưỡng, ngăn chặn các bệnh xã hội ở  trẻ  em, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh thông qua:

  • Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục kiến thức khoa học về sức khỏe sinh sản cho thanh niên, bà mẹ vùng miền núi thông qua đẩy mạnh công tác tập huấn nâng cao kĩ năng và hiểu biết về kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc trẻ em cho người dân, về kiến thức, phương tiện và tài chính để cộng đồng phát huy tính chủ động, tích cực thay đổi lối sống thiếu bền vững của người dân vùng miền núi, nhất là vùng miền núi cao;
  • Tăng cường chế độ dinh dưỡng thai sản và trẻ sơ sinh;
  • Tăng cường đội ngũ chuyên môn cho cán bộ y tế phường, xã khu vực miền núi;
  • Tăng cường giáo dục và chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, tuyên truyền phổ biến các phương pháp tránh thai cho thanh thiếu niên, các hộ gia đình vùng miền núi.

Bên cạnh đó, cần tăng cường có chiến lược chung của toàn tỉnh về cải thiện thể chất cho thanh thiếu niên các huyện miền núi vùng cao (chiều  cao,  cân nặng,  hình thức, dáng vóc).

Thứ sáu, chính sách an sinh xã hội đối với người nghèo

Một là,  việc xây dựng chính sách an sinh xã hội cần được thực hiện theo hướng  tập trung, hiệu quả, tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều, giúp người nghèo vùng miền núi tỉnh Nghệ An có khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu.

Hai là, cần đổi mới phương pháp thực  thi chính sách ASXH vì mục  tiêu công  bằng xã hội, quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh   về an sinh xã hội phải gắn liều với tiến bộ xã hội, giải phóng con người, giúp người nghèo vùng miền núi tỉnh Nghệ An được hưởng những quyền lợi chính đáng của họ.   Để tăng cường hiệu quả trong thực thi chính sách ASXH, cần chú trọng công tác xã    hội hóa chính sách ASXH, khai thác tối đa các tiềm năng của thành phần kinh tế tư nhân, các tầng lớp dân cư để phát triển hệ thống ASXH, đồng thời thực hiện giám sát chặt chẽ hệ thống ASXH của địa phương, tránh thất thoát, lãng phí.

Ba là, thực hiện tốt việc quản lý, cung ứng và huy động nguồn lực cho ASXH thông qua xây dựng và phát triển hệ thống ASXH; thể chế hóa các chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về ASXH thành cơ chế, chính sách, luật pháp    phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương; luôn chú trọng phân bổ ngân sách nhà nước nhằm phát triển ASXH đa tầng và linh hoạt, đảm bảo sự công bằng của người nghèo ở các huyện miền núi được hưởng thụ tính ưu việt  của hệ thống ASXH,  đảm  bảo công bằng, bình đẳng trong thụ hưởng các dịch vụ ASXH trên vùng miền núi tỉnh Nghệ An.

Bốn là, chú trọng xây dựng hệ thống ASXH đa tầng, linh hoạt và tương hỗ gồm hệ thống bảo hiểm, hệ thống trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội, chương trình GN, trong đó    chú trọng xây dựng và hoàn thiện từng trụ cột  của hệ thống, đảm bảo  tính bền vững  của hệ thống ASXH cho người nghèo. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội cho các nhóm người nghèo vùng miền núi, như nhóm yếu thế, DTTS, người nghèo không có sinh kế ổn định, các đối tượng nhận cứu trợ, trợ giúp xã hội… Nhất là  cần chuyển  nhanh sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội phi lợi nhuận, tạo điều kiện cho người nghèo, người DTTS có cơ hội sử dụng các nguồn lực trong quá trình phát triển kinh tế, và sử dụng các dịch vụ công cơ bản. Cần gắn kết các mục tiêu GN trở thành các mục tiêu nhằm thực hiện và đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện phân bổ ngân sách và chương trình GNBV.