Hoàn thiện cơ sở pháp lý và chính sách phát triển hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá

Để tăng trưởng nhanh và PTBV kinh tế nói chung, hàng TCMN mây tre lá nói riêng trong bối cảnh hiện nay, Nhà nước cần phải tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách theo    hướng minh bạch, đồng bộ và phù hợp với các cam kết theo các hiệp định thương mại    song phương và đa phương. Điều đó cũng có nghĩa là Nhà nước cần phải tiếp tục hoàn  thiện khung pháp lý cần thiết nhằm tạo ra một MT kinh doanh thuận lợi, bình đẳng cho tất cả các thành phần KT trong nước và ngoài nước. Nhà nước nên căn cứ vào khả năng nâng cao giá trị gia tăng hàng TCMN mây tre lá XK trong chuỗi giá trị toàn cầu để có những chính sách ưu đãi đầu tư thích hợp, mang tính đột phá.

Từng bước tạo hành lang pháp lý thuận lợi và cải thiện MT đầu tư, đồng thời tăng cường vận động để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào SX, tiêu thụ hàng TCMN mây tre lá ở cả TT trong và ngoài nước. Tiếp tục thực hiện nghiêm chỉnh các cam  kết của Việt Nam trong các hiệp định song phương và đa phương về thương mại hàng TCMN mây tre lá. Cần nghiên cứu đề xuất khả năng đưa các nội dung liên quan tới thương mại hàng TCMN mây tre lá trong các hiệp định thương mại song phương, đa phương và   khu vực mới.

Hợp lý hoá các chính sách và thông tin giữa các cấp trung ương và địa phương cần phải có một Ban định hướng cho ngành hàng thủ công, đây là yếu tố thật sự cần quan tâm  và chú ý của Nhà nước. Bộ phận này có chức năng điều phối và tư vấn cho Chính phủ và những ban ngành liên quan. Thành viên nòng cốt của Ban Định hướng Quốc gia ngành TCMN nên là (1) Bộ Công Thương, (2) Bộ NN&PTNT, (3) Bộ TN&MT, (4) Bộ VH,TT&DL, (5) Bộ KH&ĐT, (6) Bộ Tài chính, (7) Bộ LĐ,TB&XH và (8) Bộ KH&CN và  tất cả các bộ phận này nên trực tiếp trực thuộc Chính phủ và Ban thư ký gắn liền với các bộ chủ chốt.

Bên cạnh hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý chuyên ngành, chính quyền địa phương cần kiện toàn, củng cố và phát huy hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý chuyên ngành. Trong đó, quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức, bộ máy của  Sở  NN&PTNT, Sở Công Thương và chính quyền địa phương, nhằm đảm bảo thực hiện tốt vai   trò của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động nuôi trồng, SX hàng TCMN mây tre lá như quan tâm, hướng dẫn các cơ sở chế biến tiếp cận những chính sách ưu đãi của Nhà nước; giới thiệu các cơ sở chế biến có uy tín tiếp cận các ngân hàng thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho DN vay vốn với lãi suất ưu đãi để mở rộng SX kinh doanh theo quy định hiện hành; phối hợp các ngành, địa phương xem xét, đề xuất UBND tỉnh tổ chức hội chợ, cho chủ trương ưu tiên bố trí các địa điểm SX thuận lợi trong quy hoạch đối với các cơ sở SX mới thành lập, có công nghệ sạch và tiên tiến, đảm bảo đạt tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vệ  sinh  trong SX.  Đồng thời, nghiên cứu, vận dụng các quy định hiện hành của Trung ương và căn cứ điều kiện thực tế của địa phương để xây dựng một số chính sách hỗ trợ, thúc  đẩy sự phát  triển của ngành hàng TCMN mây tre lá như: Hỗ trợ doanh nghiệp SX đa dạng hóa SP; hỗ trợ hộ gia  đình vay vốn để SX kinh doanh,… Thường xuyên tổ chức đánh giá hiệu quả, sự tác động của các quy định quản lý và các chính sách hiện có của một số làng nghề để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và điều kiện thực tế của địa phương.

Chính quyền cấp tỉnh tại các làng nghề cần đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là các thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động SX, chế biến, nhằm tạo sự thuận lợi cho người dân và DN trong thực hiện các thủ tục có liên quan đến dịch vụ công; đồng thời công khai, minh bạch hóa các quy định, chính sách ưu đãi, nhằm tạo điều kiện cho các cơ sở chế biến, hộ SX tiếp cận và thụ hưởng lợi ích từ chính sách của Nhà nước. Thường xuyên theo dõi, cập nhật các quy định, cơ chế, chính sách của Trung ương ban hành để kịp thời  sửa đổi, bổ sung, thay thế các quy định, chính sách của tỉnh, đảm bảo phù hợp với  văn bản quản lý của cơ quan nhà nước ở cấp trên cũng như phù hợp với tình hình thực tiễn của tỉnh. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, đề xuất Chính phủ, bộ quản lý chuyên ngành chấn chỉnh, sửa đổi, bổ sung những quy định và cơ chế, chính sách chưa phù hợp với thực tế của địa phương, nhằm tạo điều kiện thuận lợi để đưa cơ chế, chính sách đi vào cuộc sống tại các làng nghề.