Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tỷ giá đối với các khoản nợ vay ngoại tệ

Hiện nay, đối với các khoản nợ vay mà các DN được EVN bảo lãnh từ ngoại tệ có mức chi phí sử dụng vốn khá thấp dao động từ 0,05% đến 4% trên năm. Như vậy, các khoản nợ vay này sẽ tạo ra một lợi thế cho các DN giúp giảm thiểu chi phí sử dụng vốn bình quân và gia tăng giá trị DN. Tuy nhiên, phân tích thực trạng cho thấy các khoản nợ vay này hiện đang gây ra rủi ro về mặt tỷ giá đối với các DN. Khí tỷ giá hối đoái biến động thuận lợi sẽ làm gia tăng lợi nhuận kinh doanh của các DN; khi tỷ giá hối đoái biến động bất lợi sẽ làm giảm lợi nhuận kinh doanh của các DN. Như vậy, các khoản nợ vay từ ngoại tệ này hiện đang làm cho kết quả hoạt động kinh doanh của các DN biến động và sẽ gây ra sự biến động về tâm lý của các nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Các nhà đầu tư sẽ có xu hướng đòi hỏi mức tỷ suất sinh lời cao hơn đối với các khoản đầu tư vào DN khi nhận thấy kết quả hoạt động kinh doanh biến động. Như vậy, để giảm thiểu ảnh hưởng của rủi ro tỷ giá từ các khoản nợ vay ngoại tệ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN và giúp các DN tận dụng được các khoản nợ vay có chi phí sử dụng vốn thấp để giảm thiểu chi phí sử dụng vốn bình quân của các DN thì yêu cầu đặt ra là các DN cần phải có các biện pháp để quản trị rủi ro đối với các khoản nợ vay ngoại tệ. Các biện pháp mà các DN có thể áp dụng trong việc quản trị rủi ro tỷ giá từ những khoản nợ vay ngoại tệ được đề xuất như sau:

– Các DN cần nghiên cứu, đào tạo cán bộ để sử dụng các công cụ phái sinh để phòng chống rủi ro nhằm hạn chế các tác động của rủi ro tỷ giá đối với các khoản nợ vay ngoại tệ. Các công cụ phái sinh mà các DN có thể sử dụng bao gồm: hợp đồng tương lai; hợp đồng kỳ hạn; hợp đồng hoán đổi; hợp đồng quyền chọn.

+ Hợp đồng tương lai: Là một thoả thuận mua bán một loại tài sản cơ sở nhất định theo một mức giá chuyển giao tài sản đó tại một thời gian có hiệu lực trong tương lai (thời gian đáo hạn) và việc chuyển giao này sẽ được thực hiện theo quy định của Sở giao dịch có tổ chức. Hợp đồng tương lai về bản chất giống như hợp đồng kỳ hạn. Tuy nhiên, quy cách của hàng hoá giao dịch trong hợp đồng tương lai được chuẩn hoá và chúng được giao dịch tại các sản giao dịch tập trung.

+ Hợp đồng quyền chọn: Là hợp đồng cho phép người sở hữu nó có quyền mua hoặc bán một tài sản cơ sở với giá đã ấn định trước vào trước hoặc đúng ngày đã được xác định trong tương lai.

Hai loại hợp đồng SWAP phổ biến được các DN sử dụng để hạn chế rủi ro là hợp đồng hoán đổi lãi suất và hợp đồng hoán đổi tiền tệ. Trong hợp đồng hoán đổi lãi suất, các bên hoán đổi dòng lãi suất của DN mình để lấy dòng lãi suất của DN đối tác để giảm thiểu rủi ro về mặt lãi suất. Hợp đồng hoán đổi tiền tệ là hợp đồng mà các DN hoán đổi tiền tệ của mình cho nhau để giảm thiểu rủi ro. Về cơ bản, hợp đồng hoán đổi tiền tệ có sự tương đồng đối với hợp đồng hoán đổi lãi suất; tuy nhiên, điểm khác nhau căn bản đó chính là tại thời điểm ký kết hợp đồng lượng tiền tệ được chuyển giao cho DN đối tác và lượng tiền tệ được hoàn trả tại thời điểm kết thúc hợp đồng. SWAP tiền tệ giúp các DN hoán đổi đồng tiền này sang đồng tiền khác giúp cho việc sử dụng vốn với rủi ro thấp hơn.

Các DN cần xây dựng hệ thống thông tin dự báo tỷ giá hối đoái nhanh và phải được cập nhật liên tục và thiết lập các công cụ đo lường, cảnh báo rủi ro hối đoái để kịp thời có đầy đủ thông tin một cách nhanh chóng trên thị trường hối đoái để đưa ra các quyết định về rủi ro hối đoái một cách hiệu quả. Việc dự báo tỷ giá trên thị trường tài chính được thực hiện chủ yếu dựa vào 2 kỹ thuật chủ yếu là phân tích kỹ thuật (Technical Analysis) và phân tích cơ bản (Fundamental Analysis). Phân tích kỹ thuật là phương pháp dự báo tỷ giá hối đoái dựa trên dữ liệu về quá khứ, quy luật và xác suất xuất hiện của biến cố. Phân tích kỹ thuật dự trên các lý thuyết căn bản như: lý thuyết Dow; Fibonacci và Elliot Wave. Phân tích cơ bản là phương pháp dự báo tỷ giá hối đoái tập trung vào đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá hối đoái như lãi suất, lạm phát, tăng trưởng, hoạt động xuất nhập khẩu. Phương pháp này dựa trên các lý thuyết như: lý thuyết ngang giá sức mua (PPP); lý thuyết ngang giá lãi suất (IRP); mô hình cán cân thanh toán quốc tế, mô hình thị trường vốn…

Các DN cần thay đổi tập quán theo hướng chủ động đối phó với rủi ro thay vì thụ động giải quyết hậu quả của rủi Để làm được điều này các DN phải xây dựng bộ phận chuyên môn để quản lý rủi ro và đứng đầu bộ phận chuyên môn phải là chuyên gia có trình độ chuyên môn cao am hiểu về phân tích, đánh giá, lựa chọn biện pháp đối phó, xử lý rủi ro tỷ giá.