Hoàn thiện công tác quy hoạch tổng thể phát triển hàng thủ công mỹ nghệ mây tre lá

Vào ngày 18/02/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển ngành mây tre đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Trong đó, có nội dung quy định về hoạt động nuôi trồng, SX, XK làm cơ sở cho các địa phương trong cả nước nghiên cứu, xây dựng và thực hiện quy hoạch trên địa bàn, đảm bảo đúng định hướng phát triển của quốc gia, khu vực, nhằm hạn chế tình trạng quy hoạch của mỗi địa phương chỉ đảm bảo lợi ích riêng của từng địa phương, không thể hiện được sự kết nối vùng, miền và có thể dẫn đến phá vỡ quy hoạch chung của cả nước. Tuy nhiên, qua thời gian tổ chức thực hiện, quy hoạch có một số nội dung chưa phù hợp với thực tế như vùng quy hoạch,  đối tượng nuôi trồng… đã dẫn đến sự phá vỡ quy hoạch ở một số địa bàn trong các làng nghề. Bên cạnh đó, một số làng nghề cũng chưa xây dựng quy hoạch khu vực chế biến cho các hộ SX theo hướng hình thành những làng nghề chế biến. Vì vậy, Nhà nước cần tiếp tục triển khai việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch tổng thể các vùng SX hàng TCMN mây tre lá đã có để có được những diện tích nuôi trồng ổn định, lâu dài, phù hợp với điều kiện và lợi thế của từng vùng, đáp ứng nhu cầu TT thế giới. Kiên quyết giới hạn quy mô SX hàng TCMN mây tre lá XK ở mức độ thích hợp, cho hiệu quả KT cao, loại bỏ những diện tích đất sử dụng không có hiệu quả.

– Thực trạng hiện nay là đất rừng quá manh mún và đã cơ bản giao cho người dân, các hộ được nhận đất rừng này lại thiếu về tài chính không thể trồng với diện tích lớn.  Trong khi đó, các DN có tiềm năng về tài chính và nguồn lực về nuôi trồng NVL lại không được thuê đất. Chính vì vậy có thể tập trung vào một số giải pháp chính sau:

Cần có chính sách để tạo ra những vùng đất liên tục ở các địa phương đã quy hoạch đối với từng loại nguyên liệu, cần có quy hoạch sẵn những vùng đất rộng lớn để nhằm thu hút sự đầu tư phát triển nguyên liệu của các DN. Nhà nước cần đẩy mạnh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có chính sách mở rộng hành lang pháp lý cho các hình thức đấu thầu, cho thuê đất nuôi trồng tại các làng nghề khu vực đồng bằng Bắc bộ…

Tại các địa phương nơi có diện tích đất rừng đã được chia hết cho người dân, cần khuyến khích, hợp tác, tạo cơ hội cho những cá nhân có điều kiện tích tụ đất rừng để họ có thể tạo ra vùng nguyên liệu rộng lớn. Ðây chính là đầu mối để các DN chế biến có thể ký hợp đồng đầu tư vùng NVL qua các tổ nhóm hợp tác này.

Khuyến khích mô hình liên kết giữa các làng nghề/cơ sở làng nghề với các vùng NVL.

–  Trong thời gian qua, hoạt động khai thác nguồn NVL mây tre lá được  sự quản lý khá chặt chẽ của cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương, tuy nhiên vẫn còn những hạn chế nhất định, đã dẫn đến sự suy giảm đa dạng giống loài và có dấu hiệu cạn kiệt nguồn lợi này. Để khắc phục những hạn chế này, tỉnh cần thực hiện một số công việc sau:

Sở NN&PTNT cần phối hợp với Cục thống kê và các địa phương tổ chức điều tra, khảo sát nguồn lợi mây tre lá làm cơ sở cho công tác lập quy hoạch và phát triển hoạt động khai thác, nuôi trồng và chế biến một cách bền vững. Tổ chức khảo sát toàn diện và đồng bộ tại các địa phương, cũng như thống kê tình hình khai thác, SX và chế biến để thiếp lập mối quan hệ số hoá của từng giai đoạn trong quy trình SX, chế biến để xây dựng hệ cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về ngành hàng TCMN mây tre lá Việt Nam.

Bên cạnh lực lượng quản lý về mặt chính quyền, cần phối hợp với các tổ chức   đoàn thể trong công tác giám sát về hoạt động này. Đồng thời, thực hiện một số biện    pháp góp phần bảo vệ, tái tạo nguồn lợi như cấm khai thác nguồn NVL  bằng các hình  thức tận diệt, sử dụng hóa chất tiêu diệt hàng loạt… Bên cạnh đó, Nhà nước cần kêu gọi, vận động các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp, hỗ trợ tỉnh thực hiện các hoạt động tái tạo nguồn NVL mây tre lá vào MT tự nhiên,…

Nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của nguồn NVL mây tre lá, chủ yếu thông qua công tác thông tin, tuyên truyền như thực hiện các chuyên mục định    kỳ trên đài truyền hình tỉnh, có bài viết, thông tin tuyên truyền về bảo vệ  nguồn lợi mây  tre lá trên báo và các phương tiện truyền thông khác, để  người dân hiểu rõ và thực hiện   tốt các giải pháp bảo vệ nguồn lợi này.

Xây dựng và phát triển vùng NVL ổn định và bền vững được thực hiện theo quy hoạch làng nghề gắn với vùng NVL của Bộ NN&PTNT được thực hiện năm 2009, trong đó:

Ưu tiên phát triển vùng NVL phải dựa trên lợi thế cạnh tranh của mỗi vùng, miền trên quan điểm kết hợp hài hoà nhiều qui mô, trong đó có quy mô vùng nguyên liệu quốc  gia và vùng nguyên liệu địa phương. Quan điểm phát triển NVL cần có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng để tránh gặp các rào cản trong XK như FSC, LACEY, FLEGT… Ưu tiên việc phát triển các vùng chuyên canh trồng NVL tập trung đồng thời kết hợp với các mô hình phát triển KT hộ gia đình nhằm giải quyết hài hòa giữa ổn định vùng NVL và tạo thu nhập cho  số đông các hộ gia đình ở vùng nông thôn tại các làng nghề TCMN.

Đa dạng hóa các hình thức chủ sở hữu vùng NVL, tạo điều kiện để các cơ sở SX  kinh doanh, đặc biệt là DN kinh doanh XK tại các làng nghề tham gia phát triển vùng    NVL (bao gồm cả khoanh nuôi, bảo vệ, phát triển hạ tầng cơ sở phục vụ khai thác, chế  biến) dưới hình thức hợp tác công-tư (PPP).

Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các ngành, địa phương tại các  làng  nghề TCMN mây tre lá có liên quan tiến hành khảo sát để cập nhật, bổ sung cơ sở dữ liệu về   điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, tình hình khai thác tự phát và xác định nguyên nhân gây  ra… Trên cơ sở đó, đề xuất UBND tỉnh xem xét, điều chỉnh quy hoạch, nhất là đối với khu vực nuôi trồng và tuỳ theo mức độ thiệt hại để có sự khuyến cáo hoặc đề nghị thay đổi.   Bên cạnh đó, phải chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng tài liệu công bố    về quy hoạch nuôi trồng, chế biến có cập nhật tình hình diễn biến hàng năm và những khuyến cáo đối với từng vùng nuôi  trồng để phổ biến, tuyên truyền rộng rãi  đến người  nuôi trồng, SX chế biến tại các địa phương trong làng nghề. Đồng thời, quản lý tốt việc  thực hiện quy hoạch, tránh xảy ra tình trạng nuôi trồng, chế biến hàng TCMN mây tre lá ngoài vùng quy hoạch.

Sở NN&PTNT phối hợp với các sở, ngành và các địa phương có liên quan xác định các khu vực phù hợp, gần các làng nghề chế biến để xây dựng quy hoạch khu SX tập     trung đối với các hộ tham gia SX. Trong đó, phải chú ý đến điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, NNL và khả  năng cung ứng NVL đầu vào, đảm bảo hoạt động SX được thuận lợi.  Bên cạnh đó, cần đầu tư xây dựng khu vực SX tập trung, với hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh như hệ thống cung cấp nước sạch, sân phơi, hệ thống thoát nước thải và xử lý nước thải… đảm bảo các quy định về quy trình chế biến theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh để triển khai thí điểm tại một số làng nghề, cụ thể như ở Hưng Yên, Thanh hóa, Thái Bình, Nam Định, Bình Dương… Khu vực chế biến này hoạt động theo cơ chế hỗ trợ không thu  phí trong vài năm đầu để thu hút và tập trung các hộ chế biến cũng như giới thiệu rộng rãi cho cộng đồng DN kinh doanh các sản phẩm TCMN trong cả nước để các đối tượng này  đến tham quan và đặt hàng. Việc tập trung các hộ SX nhỏ lẻ vào khu vực SX tập trung sẽ  tạo điều kiện thuận lợi trong công tác tập huấn, hướng dẫn kỹ  thuật, chuyển giao  công nghệ, kiểm soát ô nhiễm và tiếp cận ưu đãi từ nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương   và địa phương.

Để có nguồn NVL thô cung cấp ổn định và hiệu quả cần thực hiện các chương trình trồng cây gây rừng có kế hoạch, khai thác và chế biến NVL thô theo hướng bền vững:

Khảo sát thực trạng nguồn nguyên liệu thực tế để đánh giá  hoạt động phân phối, lưu  kho và các nguồn cung ứng được đưa vào phục vụ cho SX hàng thủ công, đặc biệt đối với mây, tre, cói, lục bình…

Phân bổ NNL và nguồn tài chính thích hợp để triển khai các dự án chiến lược về chương trình khai thác bền vững đối với NVL thô, về nhân giống cây trồng mới để có  nguồn NVL giá trị cao tại các làng nghề. Nhà nước cần hoạch định chương trình tín dụng hỗ trợ và nâng cao hoạt động tạo quan hệ đối tác hai bên cùng có lợi giữa Nhà nước-tư nhân  (PPP) với các nhà XK và khách hàng lớn nhằm tạo ra các nguồn NVL tối ưu.

Việt Nam có thể cải thiện chất luợng của NVL cói (sedge) hạn chế mối mọt trong  quá trình SX thành phẩm, chính quyền địa phương và các ban ngành cần thực hiện nghiên cứu về việc mở rộng SX nông nghiệp kết hợp chương trình trồng và khai thác đồng bộ tại các làng nghề trực thuộc cấp tỉnh, làm cầu nối ký kết hợp đồng liên kết giữa các khu vực cung cấp nguyên liệu với khu vực SX.

Vì chất lượng của SP cuối cùng phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng NVL thô, do đó   ở công đoạn ĐV, Nhà  nước sẽ tiếp tục thiết lập các tiêu chuẩn thích hợp, các hệ thống   phân loại NVL thô; chuyển sang công đoạn SX chế biến, Nhà nước đầu tư vào công nghệ hiện đại và kỹ thuật xử lý tiên tiến thân thiện với MT để hỗ trợ ngành. Nhà nước cần hỗ    trợ các nhà XK vận hành chuỗi cung ứng NVL thô theo cách kết hợp với sự hỗ trợ từ các chính sách PTBV ngành TCMN.