Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính tại các công ty lâm nghiệp từ góc độ chuẩn mực và chế độ kế toán DN hiện hành

Sửa đổi, bổ sung Luật Kế toán

Luật Kế toán năm 2015 được ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2015 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2017. Nhiều nội dung mới được đưa vào Luật Kế toán so với Luật Kế toán năm 2006. Tuy nhiên, trước sự thay đổi của tình hình thực tiễn cũng như xu thế toàn cầu hóa nhất là khi Việt Nam tham gia và các tổ chức thương mại quốc tế thì Luật Kế toán cũng cần chuẩn hóa về tính minh bạch, thống nhất và hội nhập.

Nội dung chủ yếu cần sửa đổi, bổ sung xoay quanh các nội dung về: đối tượng áp dụng; nguyên tắc kế toán; cơ sở định giá; tổ chức nghề nghiệp về kế toán; kỳ kế toán của DN đặc thù; áp dụng hệ thống sổ kế toán; hóa đơn bán hàng; lập BCTC tổng hợp và BCTC hợp nhất…

Một số nội dung chủ yếu trong Luật Kế toán 2015 có liên quan đến hệ thống BCTC cần được xem xét sửa đổi như sau:

  • Hiện nay, Luật Kế toán 2015 vẫn áp dụng nguyên tắc giá gốc, nhưng có bổ sung thêm được ghi nhận theo giá trị hợp lý tại thời điểm cuối kỳ lập BCTC. Đối với các khoản mục có gốc ngoại tệ và các tài sản hoặc nợ phải trả có giá trị biến động thường xuyên: Phải được đánh giá và ghi nhận theo giá trị hợp lý tại thời điểm cuối kỳ lập BCTC. Điều này được cụ thể trong Điều 3, khoản 6 và Điều 28 Luật Kế toán 2015. Đây là một thay đổi căn bản trong nguyên tắc kế toán để kế toán Việt Nam tiếp cận gần hơn với chuẩn mực kế toán quốc tế. Tuy nhiên, trong tương lai, Luật Kế toán nên quy định cụ thể nhiều trường hợp áp dụng giá trị hợp lý hơn tiến tới sử dụng giá trị hợp lý để thay thế cho nguyên tắc giá gốc. Điều này là cần thiết và cần phải được thực hiện theo một lộ trình để tiến tới áp dụng được hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế.

Quy định lại về đơn vị kế toán, theo hướng, một DN phụ thuộc đạt đến quy mô nhất định phải được xem là đơn vị kế toán (tránh tình trạng các DN có quy mô rất lớn nhưng không bổ nhiệm kế toán trưởng vì chỉ lập và nộp báo cáo cho đơn vị cấp trên); Điều 49 Luật Kế toán sửa đổi, bổ sung năm 2015 và Luật kế toán năm 2003 qui định: “Đơn vị kế toán phải tổ chức bộ máy kế toán, bố trí người làm kế toán hoặc thuê dịch vụ làm kế toán.”

Hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam.

. Hệ thống chuẩn mực Việt Nam đã có đóng góp rất lớn trong việc nâng cao tính minh bạch và trung thực của BCTC, cung cấp những thông tin có chất lượng, phù hợp với trình độ quản lý và đặc thù ở Việt Nam. Tuy nhiên, nền kinh tế đang trên đà hội nhập quốc tế một cách sâu rộng thì kế toán Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế toán cầu hóa. Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam muốn hòa nhập với kinh tế thế giới thì hệ thống BCTC phải gắn với chuẩn mực, khuôn mẫu chung trên thế giới.

Hiện nay có 2 xu hướng áp dụng IFRS tại Việt Nam: (1) Việt Nam có nên tuyên bố công nhận và tuân thủ hoàn toàn IFRS (Full adoption). Theo quan điểm này cần phải tiến đến việc công nhận và áp dụng nguyên mẫu IFRS cho các đơn vị có lợi ích công chúng, đồng thời ban hành VAS/VFRS cho các đối tượng không có lợi ích công chúng (ngoại trừ SME có chế độ kế toán riêng). (2)  Việt Nam không tuyên bố áp dụng nguyên mẫu IFRS, tất cả DN (ngoại trừ SME) đều áp dụng VAS/VFRS trên cơ sở đã được cập nhật những thay đổi theo IFRS nhưng có những điều chỉnh thích hợp.

Theo tác giả, thực trạng nền kinh tế Việt Nam tuy đã hội nhập với nền kinh tế thế giới nhưng vẫn còn mang nặng đặc thù riêng của Việt Nam với đặc điểm các DN nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Mặt khác, trình độ của sinh viên ngành Kế toán cũng như trình độ của cán bộ làm kế toán trong các DN Việt Nam không đồng đều, cơ hội để tiếp cận với các chuẩn mực kế toán quốc tế khó khăn do rào cản về ngoại ngữ. Xuất phát từ lý do như vậy nên theo tác giả nếu áp dụng nguyên mẫu IAS và IFRS quốc tế vào Việt Nam tại thời điểm này không phù hợp. Do vậy, Việt Nam nên đi theo hướng thứ 2 là Việt Nam không tuyên bố áp dụng nguyên mẫu IFRS, tất cả DN (ngoại trừ SME) đều áp dụng VAS/VFRS trên cơ sở đã được cập nhật những thay đổi theo IFRS nhưng có những điều chỉnh thích hợp.

Cụ thể, các nội dung cần thay đổi đối với hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam như sau:

Thứ nhất, Nâng cấp VAS 1, chuẩn hóa quy định về mục tiêu, đặc điểm chất lượng, nguyên tắc soạn thảo và trình bày BCTC.

Chuẩn mực chung (VAS 01) quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của BCTC. VAS 01 và Framework có nhiều điểm hòa hợp với nhau vì VAS 01 được xây dựng trên cơ sở tham khảo Framework và vận dụng trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tuy nhiên, một số khái niệm và nguyên tắc trong Framework chưa được đề cập hoặc đề cập không đầy đủ trong VAS 1. Điều này ảnh hưởng đến vai trị của Chuẩn mực chung, đến nguyên tắc soạn thảo và trình bày BCTC. Do vậy, cần bổ sung, điều chỉnh một số vấn đề liên quan đến Chuẩn mực chung như sau:

(1) Bổ sung yêu cầu coi trọng bản chất hơn hình thức đối với thông tin được trình bày trên BCTC

Thông tin được coi là tin cậy nếu phản ánh các giao dịch và sự kiện đúng với bản chất và hình thức của các giao dịch và sự kiện đó. Trường hợp có sự khác biệt giữa bản chất và hình thức của các giao dịch và sự kiện thì phải kế toán và trình bày trên báo cáo tài chính theo bản chất của giao dịch và sự kiện.

(2) Bổ sung các khái niệm vốn và bảo toàn vốn:

– Khái niệm về vốn

Khái niệm tài chính về vốn được các DN áp dụng để lập và trình bày BCTC, theo đó vốn đồng nghĩa với tài sản thuần hoặc vốn chủ của DN. Khái niệm vật chất về vốn, ví dụ như năng lực hoạt động, vốn được coi như năng lực sản xuất của DN.

– Khái niệm bảo toàn vốn và xác định lợi nhuận

Dựa trên khái niệm về vốn ở đoạn trên, khái niệm bảo toàn vốn được hiểu cụ thể như sau:

Bảo toàn vốn tài chính: Theo khái niệm tài chính về vốn, lợi nhuận chỉ đạt được nếu giá trị (bằng tiền) của tài sản thuần tại thời điểm cuối kỳ cao hơn giá trị tài sản thuần tại thời điểm đầu kỳ sau khi loại trừ các khoản phân phối cho cổ đông hoặc nhận vốn góp từ cổ đông trong kỳ.

Bảo toàn vốn vật chất: Theo khái niệm vật chất về vốn, lợi nhuận chỉ đạt được  nếu năng lực sản xuất của DN tại thời điểm cuối kỳ cao hơn thời điểm đầu kỳ sau khi loại trừ các khoản phân phối cổ tức, lợi nhuận cho chủ sở hữu như cổ đông … hoặc nhận vốn góp từ chủ sở hữu trong kỳ.

Theo đó, toàn bộ BCTC phải thiết kế lại để bổ sung các thông tin phải ghi nhận và thuyết minh để người sử dụng thông tin trên BCTC đánh giá được tình hình và khả năng bảo toàn vốn tài chính và vốn vật chất của DN

(3) Quy định việc sử dụng kết hợp “giá trị hợp lý” cùng với “nguyên tắc giá gốc”.

Việc quy định sử dụng nguyên tắc giá gốc như hiện nay làm cho BCTC trong nhiều trường hợp không phản ánh được thực chất năng lực tài chính của DN. Giá trị ghi sổ của tài sản trên BCTC có thể chưa thực sự sát với giá trị có thể thu hồi của tài sản, trong khi có rất nhiều nhân tố dẫn đến sự sụt giảm giá trị tài sản, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Trong khi đó, IFRS Framework (2010) đã đưa ra một số cơ sở đo lường được sử dụng với mức độ và cách kết hợp khác nhau trong BCTC. Đồng thời, tháng 5/2011, IASB đã phát hành IFRS 13 – Đo lường giá trị hợp lý, có hiệu lực từ 01/01/2013.

Tại khuôn mẫu Framework của hệ thống IAS đưa ra các phương pháp được lựa chọn để đánh giá các yếu tố trình bày trên BCTC bao gồm các phương pháp; Phương pháp giá gốc hay chi phí gốc (Historical cost) Phương pháp chi phí hiện hành hay giá thị trường tại thời điểm lập BCTC (Current cost), phương pháp giá trị thuần có thể thực hiện được (Reallizable or settlement value), Phương pháp giá trị hiện tại (Present value). Từng phương pháp được áp dụng trong từng chuẩn mực kế toán quốc tế để ra quy định ghi nhận và trình bày trên BCTC theo những nguyên tắc nhất định để đảm bảo thông tin trình bày trên BCTC là trung thực hợp lý nhất tình hình tài chính của DN. Tuy nhiên, hiện nay những thay đổi trong IAS trong những năm gần đây chú trọng đến phản ánh giá trị tài sản và công nợ theo giá hợp lý. Đối với hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam cũng xây dựng dựa trên hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế nhưng ở Việt Nam vẫn lựa chọn việc ghi nhận và trình bày thông tin trên BCTC nghiêng về nguyên tắc giá gốc là chủ yếu.

Do vậy, trước mắt, VAS 1 cần phải quy định việc sử dụng kết hợp “giá trị hợp lý” cùng với “nguyên tắc giá gốc”. Trên cơ sở đó, quy định trong các VAS cụ thể và các hướng dẫn việc sử dụng giá trị hợp lý đối với các đối tượng và giao dịch nhằm giúp BCTC DN phản ánh trung thực và hợp lý giá trị tài sản. Tiếp theo đó, ban hành chuẩn mực “Đo lường GTHL”, xác lập điều kiện, phương pháp, lộ trình áp dụng “Nguyên tắc GTHL” trong hệ thống kế toán Việt Nam nói chung và trong việc soạn thảo và trình bày BCTC nói riêng.

Thứ hai, Áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS số 13 – Giá trị hợp lý.

Con đường tất yếu của hạch toán kế toán quốc tế là con đường đi tìm kiếm và khẳng định GTHL của tài sản và nợ phải trả của DN tại thời điểm lập BCTC, đây là yêu cầu và mong muốn của các cổ đông, nhà đầu tư khi đánh giá BCTC đó, chứ không phải giá trị lịch sử (giá gốc) của tài sản và nợ phải trả tại thời điểm lập BCTC; nhất là trong điều kiện ngày càng phát sinh nhiều các “công cụ tài chính phái sinh”; tất nhiên Việt Nam cần từng bước tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh tế và luật pháp phù hợp với yêu cầu của IAS/IFRS. Chẳng hạn như thị trường giao dịch tài sản cần phải “minh bạch” và “hoạt động” để có thể sử dụng giá trị hợp lý làm cơ sở đo lường giá trị tài sản…

Trước mắt, GTHL nhất thiết phải được sử dụng sau ghi nhận ban đầu đối với: bất động sản đầu tư, công cụ tài chính, hợp nhất kinh doanh; các khoản đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết, đầu tư vào công ty con, bởi lẻ, nếu phản ánh theo giá gốc sẽ không phản ánh được những thay đổi của thị trường, không phản ánh được lãi – lỗ chưa thực hiện vào đúng kỳ mà nó phát sinh.

Thứ ba, Đưa vào áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế số 41- Nông nghiệp đối với các đối tượng kế toán là tài sản sinh học.

Đây là đối tượng kế toán đặc biệt có các đặc điểm kế toán riêng  như cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp, cây rừng, sản phẩm từ rừng trong lâm nghiệp… Hiện nay tại Việt Nam chưa áp dụng chuẩn mực riêng cho đối tượng kế toán này, chưa có quy định cụ thể hay chế độ kế toán quy định về phương pháp đánh giá, phương pháp ghi chép, nội dung trình bày trên BCTC,… Các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp trình bày trên BCTC vẫn theo nguyên tắc giá gốc là cho thông tin về tình hình tài chính của các DN có các tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp không đảm bảo được tính trung thực và hợp lý, ảnh hưởng đến chính DN và đối tượng sử dụng thông tin. Việc áp dụng giá gốc để ghi nhận tài sản sinh học và sản phẩm nông nghiệp trong điều kiện giá cả sản phẩm nông nghiệp luôn thay đổi theo thị trường dẫn đến các CTLN thường bị thiệt thòi. Theo chúng tôi, nên đưa chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hướng dẫn theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 41 – Nông nghiệp để hướng dẫn về phương pháp kế toán cũng như trình bày BCTC về các tài sản sinh học và sản phẩm nông lâm nghiệp.

Theo chúng tôi, những tài sản sinh học như rừng trồng nguyên liệu, rừng trồng cho sản phẩm thu hoạch nhiều lần,  đang trong gia đoạn đầu tư chưa khai thác hoặc chưa hình thành nên TSCĐ thì các sản phẩm dở dang này khi trình bày trên BCTC được đánh giá theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí để bán. Trong trường hợp không có căn cứ xác định được giá trị hợp lý thì có thể xác định căn cứ giá trị tương lai của dòng tiền với lãi suất là lãi suất vay vốn đầu tư hoặc lãi suất bình quân trên thị trường của năm báo cáo nếu DN xác định được hướng đầu tư chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.

Trong trường hợp phương pháp đo lường giá trị hợp lý thay thế được xác định không tin đáng tin cậy tài sản sinh học đó sẽ được đo lường theo giá gốc trừ đi hao mòn lũy kế và lỗ tổn thất lũy kế. Khi giá trị hợp lý của tài sản sinh học đó trở nên có thể đó lường đáng tin cậy thì DN sẽ đo lường nó theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán. Khi một tài sản sinh học dài hạn thỏa mãn điều kiện phân loại vào nắm giữ để bán (hoặc được đưa vào một nhóm thanh lý mà được phân loại vào nắm giữ để bán) phù hợp với IFRS 5 Tài sản Dài hạn Nắm giữ để bán và Hoạt động bị chấm dứt, thì nó được giả định rằng giá trị hợp lý có thể được đo lường đáng tin cậy.

Thứ tư, Sửa đổi chuẩn mực kế toán 02 – Hàng tồn kho

Bổ sung quy định cụ thể các trường hợp không áp dụng CMKT số 02 và không áp dụng phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho của CMKT này:

(1) Chuẩn mực này áp dụng cho tất cả hàng tồn kho, ngoại trừ những hàng tồn kho trong các trường hợp sau:

(a) Chi phí các hợp đồng xây dựng dở dang, bao gồm cả các hợp đồng dịch vụ liên quan áp dụng CMKT số 15 – Hợp đồng xây dựng;

(b) Thương nhân – nhà môi giới hàng hóa xác định hàng tồn kho của họ theo giá trị hợp lý trừ (-) chi phí bán hàng ước tính. Trong trường hợp này, những thay đổi trong giá trị hợp lý trừ (-) chi phí bán hàng ước tính được ghi nhận trong BCKQHĐKD của giai đoạn phát sinh thay đổi;

(c) Các tài sản sinh học liên quan đến hoạt động nông nghiệp và sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch áp dụng CMKT về nông nghiệp (IAS 41- Nông Nghiệp).

(2) Chuẩn mực này không áp dụng cho phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho đang được nắm giữ bởi:

(a) DN sản xuất các sản phẩm nông lâm nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp sau khi thu hoạch, khoáng sản hoặc các sản phẩm khoáng sản, khi các sản phẩm này được tính bằng giá trị thuần có thể thực hiện được phù hợp với thực tiễn của từng lĩnh vực ngành nghề này. Khi những hàng tồn kho đó được tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được thì những thay đổi trong giá trị này được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của giai đoạn phát sinh thay đổi

(b) Thương nhân – nhà môi giới hàng hóa xác định hàng tồn kho của họ theo giá trị hợp lý trừ (-) chi phí bán hàng. Khi những hàng tồn kho này được tính bằng giá trị hợp lý trừ (-) chi phí bán hàng ước tính thì những thay đổi trong giá trị hợp lý trừ (-) chi phí bán hàng ước tính được ghi nhận trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho giai đoạn phát sinh thay đổi.

(3) Hàng tồn kho được đề cập trong đoạn 2 (a) được xác định bằng giá trị thuần có thể thực hiện được ở một số giai đoạn nhất định trong quá trình sản xuất. Ví dụ như, khi các vụ mùa nông nghiệp được thu hoạch hoặc khoáng sản được khai thác và việc bán sản phẩm được đảm bảo bằng hợp đồng kỳ hạn hoặc bằng hình thức bảo đảm của chính phủ, hoặc khi tồn tại thị trường tiêu thụ năng động và rủi ro không bán được hàng là không đáng kể. Những hàng tồn kho này chỉ không thuộc phạm vi điều chỉnh của chuẩn mực này về các quy định về xác định giá trị.

(4) Thương nhân – Nhà môi giới là người mua hoặc bán hàng hóa thay cho người khác hoặc cho mình. Những hàng tồn kho đề cập ở đoạn 2 (b) chủ yếu được mua lại với mục đích sẽ bán trong tương lai gần và tạo ra lợi nhuận từ thay đổi giá hoặc phí môi giới. Khi những hàng tồn kho này được xác định bằng giá trị hợp lý trừ (-) chi phí bán hàng ước tính, chúng chỉ không thuộc phạm vi điều chỉnh của CMKT này các quy định về mặt xác định giá trị.

Như vậy, đối với các CTLN có đối tượng kế toán là các Tài sản sinh học như rừng trồng sản xuất thì đây được coi là đối tượng kế toán riêng thỏa mãn điều kiện là tài sản sinh học theo IAS 41 – Nông nghiệp. Do vậy, Tài sản sinh học là rừng trồng không được xếp vào Hàng tồn kho của các CTLN

Thứ năm, sửa đổi CMKT SỐ 16-chi phí đi vay

Để phù hợp với IAS số 23-Chi phí đi vay và các CMKT khác có liên quan, cần bổ sung, sửa đổi CMKT số 16- Chi phí đi vay các nội dung sau:

Thứ nhất, bổ sung phạm vi áp dụng CMKT số 16 (hay còn gọi VAS số 16) kế toán chi phí đi vay cho phù hợp với IAS số 23 (đoạn 2) đó là CMKT này không áp dụng đối với:

(1) Chi phí vốn chủ sở hữu, cho dù là chi phí thực tế hoặc chi phí cơ hội, bao gồm cả trường hợp cổ phiếu ưu đãi được phân loại là nợ phải trả (ví dụ như các loại công cụ vốn);

(2) Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến quá trình mua sắm, đầu tư, xây dựng hoặc sản xuất trong hai trường hợp:

(a) Tài sản dở dang được xác định theo giá trị hợp lý như tài sản sinh học. Ví dụ: Theo CMKT về nông nghiệp, rừng trồng cho sản phẩm như rừng thông trồng lấy nhựa khi kết thúc quá trình đầu tư đưa vào khai thác lấy sản phẩm thì nguyên giá TSCĐ là rừng thông  được xác định theo giá trị hợp lý, nên chi phí đi vay phát sinh trong quá trình đầu tư làm đất, trồng mới và chăm sóc cây cao su là tài sản dở dang không được vốn hóa. Chênh lệch giữa nguyên giá xác định theo giá trị hợp lý và tổng chi phí phát sinh trong quá trình đầu tư cho đến khi hoàn thành đưa vào khai thác lấy sản phẩm được ghi nhận là lãi, lỗ chưa thực hiện.

(b) Sản phẩm được sản xuất hoặc chế tạo với số lượng lớn theo quy trình lặp đi lặp lại như sản xuất 1 loại ôtô với số lượng lớn.

Thứ hai, sửa đổi nội dung chi phí đi vay (đoạn 04 của VAS số 16) cho phù hợp với IAS số 23, theo đó chi phí đi vay chỉ bao gồm 2 nội dung:

– Chi phí lãi tiền vay tính theo phương pháp lãi suất thực tế quy định trong CMKT về công cụ tài chính;

– Chi phí tài chính của tài sản thuê tài chính.

Như qui định hiện hành của VAS số 16, theo đó chi phí đi vay sẽ không còn 2 nội dung là: (i) phần phân bổ các khoản chiết khấu hoặc phụ trội phát sinh liên quan đến những khoản vay do phát hành trái phiếu và (ii) phần phân bổ các khoản chi phí phụ phát sinh liên quan tới quá trình làm thủ tục vay.

Lý do của việc sửa đổi này là theo VAS số 16 và theo hướng dẫn kế toán hiện hành để thực hiện VAS số 16 thì việc xác định và phân bổ chiết khấu hoặc phụ trội được tính định kỳ để điều chỉnh chi phí đi vay từ lãi suất trái phiếu về lãi suất thị trường và DN có thể sử dụng phương pháp lãi suất thực tế hoặc phương pháp đường thẳng. Quy định này chỉ phù hợp khi chưa có CMKT quốc tế về công cụ tài chính

Theo IAS số 32 đã bổ sung, sửa đổi thì DN phải xác định và ghi nhận chi phí lãi tiền vay theo một phương pháp lãi suất thực tế quy định trong CMKT về công cụ tài chính, trong đó đã bao gồm các khoản chiết khấu hoặc phụ trội trái phiếu và các khoản chi phí phụ phát sinh liên quan đến quá trình làm thủ tục vay hoặc phát hành trái phiếu.

Đối với CTLN, chi phí lãi vay chiếm tỷ trọng khá lớn trong chi phí trồng rừng. Các khoản vay chủ yếu là vay từ các Tổng công ty, lãi suất thấp, tuy nhiên những khoản vay này khoản phụ phí cho vay tương đối lớn. Nếu chỉ tính lãi suất cho vay vào chi phí đi vay thì không chính xác. Nhưng những khoản phụ phí lại có những khoản không chính thống. Do vậy. nếu tính chi phí đi vay theo IAS 16 vừa hợp lý lại tránh được các khoản phụ phí không chính thống bị bỏ ra ngoài không tính vào chi phí đi vay.

Điều chỉnh, bổ  sung  kết  cấu,  nội  dung  hệ  thống  Báo  cáo tài chính hiện hành

Bổ sung Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu

Như đã trình bày ở chương 2, hiện tại Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu chưa được trình bày thành một báo cáo riêng biệt trong hệ thống BCTC DN, trong khi, theo IFRS Framework, Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu là một báo cáo riêng biệt trong hệ thống BCTC.

Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu trình bày các thông tin về sự thay đổi các tài sản thuần trong kỳ hoặc vốn đầu tư của cổ đông theo các nguyên tắc đo lường cụ thể được lựa chọn và công bố. Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu không bao gồm các thay đổi do các giao dịch với chủ sở hữu với tư cách là chủ sở hữu (như góp vốn, mua lại cổ phần của đơn vị và cổ tức) và chi phí giao dịch liên quan trực tiếp đến những giao dịch này, báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu trong kỳ trình bày tổng thu nhập vàchiphí.

Theo đó, báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu trình bày các thông tin sau:

  • Tổng lợi nhuận tổng hợp của một kỳ, trình bày riêng phần chia cho chủ sở hữu của công ty mẹ và các cổ đông thiểu số;
  • Tác động của việc áp dụng hồi tố hoặc điều chỉnh hồi tố lên từng thành phần của vốn chủ sở hữu, theo quy định của IAS 8- Chính sách kế toán, sự thay đổi trong ước tính kế toán và sai sót;
  • Đối chiếu giữa giá trị đầu kỳ và cuối kỳ cho từng thành phần của vốn chủ sở hữu và thuyết minh riêng các thay đổi phát sinh từ:

+ Lãi lỗ (hoạt động kinh doanh);

+ Thu nhập tổng hợp khác;

+ Các giao dịch với chủ sở hữu của DN với tư cách là chủ sở hữu, trình bày rõ giá trị đóng góp của chủ sở hữu và giá trị phân chia cho các chủ sở hữu và thay đổi về tỷ lệ sở hữu của chủ sở hữu trong các công ty con mà không dẫn đến mất quyền kiểm soát.

DN trình bày trong báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu, hoặc trong thuyết minh BCTC, khoản cổ tức ghi nhận là phần phân chia cho các chủ sở hữu trong kỳ và cổ tức được chia trên mỗi cổ phiếu.

Hệ thống BCTC DN sau khi bổ sung “Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu” và điều chỉnh chỉnh tên gọi đối với Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, sẽ bao gồm:

  • Báo cáo tình hình tài chính;
  • Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh;
  • Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu;
  • Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
  • Thuyết minh.

* Thuyết minh BCTC

Thứ nhất, Bổ sung thuyết minh các khoản trích lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính để nhà đầu tư có những thông tin cụ thể về và chi tiết giá trị của các khoản đầu tư, các khoản dự phòng giảm giá đầu tư tài chính. Việc công khai trích lập các khoản dự phòng này, cùng với các giải thích về cách thức trích lập dự phòng, lý do không trích lập dự phòng rất có ý nghĩa đối với nhà đầu tư khi xem xét và đánh giá tổn thất với từng khoản đầu tư tài chính. Nội dung thuyết minh có thể rất ngắn gọn song có ý nghĩa tham khảo quan trọng. Công bố các thông tin về trái phiếu chuyển đổi của các công ty niêm yết tại Mục V.20 trên Bản thuyết minh BCTC. Những thông tin này là cơ sở rất quan trọng để đánh giá khả năng thanh toán, cũng như dự đoán EPS của công ty. Những thông tin cần phải thuyết minh bao gồm:

+ Trái phiếu chuyển đổi tại thời điểm đầu kỳ;

+ Trái phiếu chuyển đổi phát hành thêm trong kỳ;

+ Trái phiếu chuyển đổi được chuyển thành cổ phiếu trong kỳ;

+ Trái phiếu chuyển đổi đáo hạn không chuyển thành cổ phiếu trong kỳ;

+ Trái phiếu chuyển đổi tại thời điểm cuối kỳ.

Thứ hai, Bắt buộc trình bày tách biệt các hoạt động tiếp tục khỏi các hoạt động gián đoạn trong phần thuyết minh BCTC

Theo IFRS 5 – Tài sản dài hạn chờ bán và hoạt động gián đoạn – các hoạt động tiếp tục và ngưng trệ được yêu cầu trình bày riêng biệt. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp người sử dụng các BCTC tăng khả năng dự đoán các dòng tiền, EPS và tình hình tài chính của DN. Trong khi đó VAS chưa đề cập đến yêu cầu này, dẫn đến nhà đầu tư, người cho vay thiếu cơ sở đánh giá xác thực về năng lực hoạt động thực sự của DN.

Do vậy, trước mắt, cần bổ sung quy định yêu cầu thuyết minh các hoạt động bị ngưng trệ trong Bảng thuyết minh BCTC.

– Để khắc phục tình trạng khá cồng kềnh hiện nay của thuyết minh BCTC, có thể xem xét chỉ trình bày chi tiết những thông tin đối với các trường hợp: các chỉ tiêu được lập trên cơ sở “tập hợp” thông tin từ nhiều tài khoản cấp một và khác nhau về bản chất, chức năng; hoặc các chỉ tiêu được lập trên cơ sở “bù trừ” giữa tài sản và nợ, giữa doanh thu và chi phí, giữa thu  và chi.

– Ngoài ra, IAS 1 yêu cầu trình bày các xét đoán và các khía cạnh không chắc chắn mà lãnh đạo đơn vị sử dụng trong quá trình lập BCTC. Đây là những thông tin tham khảo quan trọng cần được bổ sung trên thuyết minh BCTC.

Thứ ba, bổ sung các thông tin chi tiết về các bên liên quan phải trình bày BCTC theo IAS 24 – Thông tin về các bên liên quan, cụ thể:

Thông tin về các khoản thu nhập cho Ban lãnh đạo phải thuyết minh chi tiết các nội dung sau:

DN phải trình bày các khoản thu nhập cho Ban lãnh đạo DN theo tổng số tiền và chi tiết cho từng khoản thu nhập.

DN phải thuyết minh các khoản thu nhập mà Ban lãnh đạo có được dưới mọi hình thức chi trả bao gồm do DN, hoặc các bên thay mặt cho DN (như công ty mẹ…) đã trả, phải trả, phải cung cấp cho Ban lãnh đạo để họ làm việc cho DN.

  • Các khoản thu nhập của Ban lãnh đạo phải thuyết minh, gồm:
  • Tiền lương, tiền công, các khoản đóng BHXH, nghỉ phép năm;
  • Các khoản chia thưởng, cổ tức, lợi nhuận (nếu được trả trong thời gian 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính);
  • Các khoản thu nhập khác không phải bằng tiền như BHYT, nhà ở, xe và các hàng hoá, dịch vụ khác được sử dụng miễn phí giành cho Ban lãnh đạo hiện đang làm việc;
  • Các khoản chi trả bằng cổ phiếu.
  • Nếu DN có các giao dịch với các bên liên quan phát sinh trong kỳ lập BCTC thì phải trình bày bản chất của mối quan hệ với các bên liên quan, các thông tin về: (i) Các giao dịch, số dư và các khoản cam kết; để người sử dụng BCTC có thể hiểu được về các ảnh hưởng có thể có của các mối quan hệ đó đối với BCTC của DN; (ii) Kỳ hạn và điều kiện thanh toán, bao gồm cả các số dư này có tài sản đảm bảo hay không và bản chất của hình thức chi trả khi DN thanh toán cũng như chi tiết các khoản bảo lãnh DN phát hành hoặc nhận được; (iii) Khoản dự phòng các khoản phải thu khó đòi liên quan đến các số dư này; (iv) Các khoản chi phí đã ghi nhận trong kỳ liên quan đến các khoản dự phòng phải thu khó đòi các bên liên quan.
  • Việc trình bày các thông tin về các bên liên quan như đã nêu tại mục (2) phải được tách riêng cho từng nhóm sau:
  • Công ty mẹ;
  • Các đơn vị có quyền đồng kiểm soát hoặc ảnh hưởng đáng kể tới DN;
  • Các công ty con;
  • Các công ty liên kết;
  • Các công ty liên doanh mà trong đó DN là bên tham gia liên doanh;
  • Nhân sự lãnh đạo chủ chốt của DN hoặc công ty mẹ;
  • Các bên liên quan khác.