Hoàn thiện hệ thống báo cáo và phân tích báo cáo kế toán quản trị chi phí công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Hoàn thiện hệ thống báo cáo quản trị chi phí

Các báo cáo KTQTCP cần phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu thu nhận, cung cấp thông tin của các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương, vì những báo cáo này chỉ mang tính chất hướng dẫn nên có thể đề xuất các nhóm báo cáo KTQTCP như sau:

Nhóm báo cáo để lập kế hoạch và định hướng hoạt động: Đây là nhóm báo cáo định hướng hoạt động cung cấp thông tin nhằm kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả hoạt động của các công ty sản xuất xi măng. Trong quá trình lập kế hoạch nhà quản trị sử dụng nhiều thông tin khác nhau, trong đó thông tin dự toán đóng vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa mục tiêu của doanh nghiệp. Chính vì vậy báo cáo dự toán thực sự hữu ích đối với nhà quản trị doanh nghiệp. Có thể lập những báo cáo dự toán chi phí của khu vực sản xuất và khu vực ngoài sản xuất gắn với từng TTCP như:

+ Báo cáo dự toán chi phí tại phân xưởng khai thác

+ Báo cáo dự toán chi phí tại phân xưởng lò nung

+ Báo cáo dự toán chi phí tại phân xưởng xi măng

+ Báo cáo dự toán chi phí bộ phận bán hàng

+ Báo cáo dự toán chi phí bộ phận kinh doanh

+ Báo cáo dự toán chi phí bộ phận quản lý doanh nghiệp

+ Báo cáo dự toán chi phí toàn doanh nghiệp

Việc lập báo cáo dự toán chi phí tại từng TTCP sẽ được người phụ trách lập dựa trên hệ thống định mức từng bộ phận và sản lượng sản xuất dự toán để từ đó tổng hợp toàn doanh nghiệp có được báo cáo dự toán giúp người quản lý hoạch định kinh doanh cũng như đưa ra các quyết định quản lý phù hợp.

Nhóm báo cáo phục vụ kiểm soát chi phí: Đây là những báo cáo phản ánh tình hình thực hiện giữa dự toán đã lập ở các TTCP trong các công ty sản xuất xi măng so với chi phí thực tế thực hiện tại mỗi TTCP tương ứng để từ đó đưa ra các đánh giá, điều chỉnh cho phù hợp cũng như tìm các nguyên nhân, biện pháp khắc phục. Bao gồm một số báo cáo sau:

+ Báo cáo thực hiện chi phí tại phân xưởng khai thác

+ Báo cáo thực hiện chi phí tại phân xưởng lò nung

+ Báo cáo thực hiện chi phí tại phân xưởng xi măng

+ Báo cáo thực hiện chi phí bộ phận bán hàng

+ Báo cáo thực hiện chi phí bộ phận kinh doanh

+ Báo cáo thực hiện chi phí bộ phận quản lý doanh nghiệp

+ Báo cáo thực hiện chi phí toàn doanh nghiệp

Nhóm báo cáo quản trị phục vụ cho việc ra quyết định: Là những  báo cáo cung cấp thông tin cho nhà quản trị các cấp ở mỗi TTCP trong các công ty sản xuất xi măng làm căn cứ để ra quyết định phù hợp với thẩm quyền được giao kiểm soát chi phí. Nhóm này có thể là các báo cáo phân tích chênh lệch chi phí; báo cáo phân tích thông tin thích hợp trong việc lựa chọn phương án hay báo cáo bộ phận.

          3.3.6.2 Hoàn thiện phân tích báo cáo quản trị chi phí

Tại các công ty sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh Hải Dương mặc dù đã có những phân tích nhất định về chênh lệch phí ở một số công ty có quy mô lớn chiếm 40% trong tổng số, song việc phân tích mới chỉ dừng lại việc so sánh giữa chi phí (khối lượng) thực tế với chi phí (khối lượng) kế hoạch. Hơn nữa mới chỉ dừng lại ở phân tích chênh lệch chi phí NVLTT, chi phí NCTT chưa phân tích chênh lệch chi phí SXC hay chênh lệch định phí, biến phí. Để có được những thông tin hữu ích hơn cho việc cho quá trình ra quyết định của nhà quản trị tại các công ty sản xuất xi măng cần phân tích toàn diện các khoản mục chi phí trong sản xuất và chi phí ngoài sản xuất về số chênh lệch, lý do chênh lệch và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến nguyên nhân chênh lệch.

– Phân tích biến động CPNVLTT: Việc phân tích biến động CPNVLTT được thực hiện bằng cách so sánh giữa CPNVLTT thực tế phát sinh với CPNVLTT dự toán ở từng phân xưởng sản xuất.

Chênh lệch CPNVLTT = CPNVLTT thực tế – CPNVLTT dự toán

Từ kết quả so sánh phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến chi phí phí này. NVLTT tiêu hao được xác định bởi yếu tố đơn giá và lượng NVLTT tiêu hao. Đối với yếu tố lượng NVLTT tiêu hao bị ảnh hưởng của lượng NVLTT tiêu hao trong từng sản phẩm xi măng và lượng nguyên vật liệu hao hụt, còn yếu tố đơn giá nguyên vật liệu tiêu bao bị ảnh hưởng của biến động bởi chi phí khai thác đá vôi, đất sét, quặng các loại và thuế khai thác tài nguyên ….đồng thời phụ thuộc vào giá thị trường của những loại vật liệu mua ngoài, ngoài ra còn chịu tác động của phương pháp tính trị giá nguyên vật liệu xuất kho dùng cho sản xuất xi măng. Đặc biệt chi phí tiêu hao nguyên vật liệu trực tiếp còn bị ảnh hưởng của yếu tố áp dụng công nghệ sản xuất lò quay hiện đại hay lò đứng lạc hậu. Bởi khi áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại, tỷ lệ hao hụt nguyên vật liệu và phế phẩm loại ra là rất thấp và ngược lại đối với công nghệ lạc hậu.

+ Phân tích biến động CPNCTT: Cũng thực hiện so sánh giữa CPNCTT thực tế phát sinh với CPNCTT dự toán ở từng phân xưởng khai thác, phân xưởng lò nung, phân xưởng xi măng hay phân xưởng đóng bao. Nhân tố ảnh hưởng đến CPCNTT bao gồm: khối lượng sản phẩm sản xuất; thời gian lao động hao phí; đơn giá nhân công ở từng thời kỳ. Trường hợp Công ty sản xuất xi măng không thực hiện khoán thì mức tiêu hao CPNCTT bị ảnh hưởng của nhân tố thời gian lao động trực tiếp để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm (Tgđm) và đơn giá thời gian lao động đó (đgncđm); còn trong trường hợp Công ty sản xuất xi măng thực hiện khoán sản phẩm thì mức  tiêu hao phụ thuộc vào khối lượng định mức sản phẩm hoàn thành trong một đơn vị thời gian và đơn giá tiền lương tính cho 1 đơn vị sản phẩm. Ngoài ra yếu tố áp dụng công nghệ cũng có ảnh hưởng đến CPNCTT, đó là: Nếu sử dụng công nghệ lò quay hiện đại sẽ tiết kiệm được lao động phổ thông trực tiếp có đơn giá tiền lương không cao nhưng lại tăng số lượng công nhân có trình độ cao trực tiếp điều khiển máy với đơn giá tiền lương rất cao và ngược lại với công ty sử dụng công nghệ lạc hậu.

– Phân tích biến động CPSXC và chi phí ngoài sản xuất: Phân tích biến động những chi phí này phải dựa vào từng loại biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp để có cách thức phân tích cho phù hợp. Đối với những yếu tố chi phí là biến phí thì sẽ được xác định các nhân tố ảnh hưởng tương tự mức tiêu hao CPNVLTT hay CPNCTT còn các yếu tố là định phí thì mức độ biến động dễ dàng xác định do không có sự thay đổi trong công suất hoạt động bình thường.

Kết quả của sự phân tích có thể là âm hoặc dương hoặc bằng không, căn cứ vào kết quả cụ thể sẽ chỉ ra rằng nếu kết quả âm tức là đã có sự tiết kiệm chi phí nhất định, ngược lại nếu kết quả dương tức là đã có sự tăng về chi phí thì cần phải chỉ rõ các nhân tố ảnh hưởng đến việc tăng giảm chi phí để các nhà quản trị trong các công ty xi măng có biện pháp quản lý, điều chỉnh phù hợp.